CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGHIÊN CỨU TIỀN KHẢ THI ĐỐI VỚI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG. TẠI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm nghiên cứu tiền khả thi đối với các dự án đầu tư xây dựng tại doanh nghiệp xây dựng 1.1 Khái niệm Theo nội dung của Quốc hội (2020), khái niệm “dự án đầu tư xây dựng” được định nghĩa là “tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.” Quốc hội (2020) cũng quy định, dự án đầu tư xây dựng đưa phân loại theo quy mô, mức độ quan trọng; công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý; nguồn vốn sử dụng và hình thức đầu tư. Trong đó, căn cứ công năng phục vụ, tính chất chuyên ngành của công trình và mục đích quản lý, dự án đầu tư xây dựng được phân loại thành các dự án là Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng; Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp; Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật; Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông; Dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh; Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, dự án đầu tư xây dựng khu đô thị và dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp khác.
Theo Vương Thị Thuỳ Dương (2019), nghiên cứu tiền khả thi được định nghĩa là "nghiên cứu các thông tin một cách tổng quát về dự án đầu tư. Qua đó chủ đầu tư có thể đánh giá sơ bộ tính khả thi của dự án. Đồng thời lựa chọn phương án đầu tư thích hợp nhất cho dự án." Thái Bá Cẩn (2018) nhấn mạnh tính chất sơ bộ của nghiên cứu tiền khả thi, coi đây là một tài liệu "trình bày các nội dung nghiên cứu sơ bộ về sự cần thiết, tính khả thi và hiệu quả của dự án." Nghiên cứu tiền khả thi giúp xác định sự cần thiết và khả năng thực hiện của dự án thông qua việc phân tích các yếu tố như mục tiêu đầu tư, các điều kiện về kinh tế, kỹ 5 thuật, và môi trường. Đây là giai đoạn quan trọng để quyết định xem có nên tiếp tục đầu tư thêm nguồn lực vào nghiên cứu khả thi chi tiết hơn hay không.
Như vậy, trong phạm vi của đề án này, nghiên cứu tiền khả thi có thể được định nghĩa gần với khái niệm của Vương Thùy Dung (2019) là một bước đánh giá sơ bộ về tính khả thi của dự án, cung cấp thông tin tổng quan về các khía cạnh khác nhau của dự án, từ đó giúp chủ đầu tư có cơ sở để quyết định có nên tiếp tục đầu tư vào dự án hay không. Mặc dù không đi sâu vào chi tiết như nghiên cứu khả thi, nghiên cứu tiền khả thi vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư. Và nghiên cứu tiền khả thi trong phạm vi đề án được sử dụng với mục đích báo cáo, công bố nội bộ, phục vụ cho công tác đầu tư tại Việt Nam.2 Đặc điểm Nghiên cứu tiền khả thi (NCTKT) là một bước quan trọng trong quá trình chuẩn bị đầu tư dự án, đặc biệt là đối với các dự án đầu tư xây dựng. Hoạt động này có những đặc điểm riêng biệt so với nghiên cứu khả thi cũng như các dự án đầu tư nói chung.
Đặc điểm đầu tiên của NCTKT là tính chất sơ bộ và tổng quan. NCTKT tập trung vào việc xem xét các khía cạnh của dự án một cách tổng quan, chưa chi tiết, và ở trạng thái tĩnh, tức là chưa tính đến các yếu tố bất định có thể xảy ra trong tương lai. Mục tiêu chính là xác định các cơ hội đầu tư tiềm năng và loại bỏ những dự án không khả thi ngay từ giai đoạn đầu, tránh lãng phí thời gian và tài nguyên cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn. Trong dự án đầu tư xây dựng, giai đoạn này thường tập trung vào việc đánh giá nhu cầu về dự án, khả năng đáp ứng của địa điểm, công nghệ dự kiến, nguồn vốn, và lợi ích kinh tế - xã hội một cách khái quát.
NCTKT liền với việc đưa ra quyết định đầu tư dự án. Do đó, hoạt động này sẽ cần được diễn ra trong thời gian chính xác, nhanh chóng để nhà đầu tư có thể có quyết định đúng thời điểm, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư. Bộ máy nhân lực chung phục vụ cho nghiên cứu tiền khả thi sẽ bao gồm: Người chỉ đạo chung, Cán bộ phụ trách các mảng chuyên môn như: nghiên cứu thị trường, tài chình, kỹ thuật, v. Theo quy định nội bộ Nhân lực thực hiện NCTKT đối với dự án đầu tư xây dựng sẽ cần có một số đặc điểm về chuyên môn, kinh nghiệm để đảm bảo được chất lượng, hiệu quả công việc.
Người đứng đầu sẽ cần có chuyên môn về quản lý dự án, phát triển dự án và có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực liên quan (xây dựng, bất động sản…) ít nhất 5 năm. Cán bộ phụ trách các mảng chuyên môn cần có kinh nghiệm tối thiểu 3 – 5 năm tuỳ theo yêu cầu thực tế của đơn vị thực hiện NCTKT. 6 Khi thực hiện NCTKT đối với dự án đầu tư xây dựng (sử dụng cho mục đích đánh giá nội bộ), đối tượng nghiên cứu sẽ là các yếu tố liên quan đến dự án, bao gồm kỹ thuật, tài chính, pháp lý, và môi trường, nhằm xác định tính khả thi tổng quan của dự án trước khi tiến hành nghiên cứu chi tiết. Kết quả của quá trình NCTKT được thể hiện dưới dạng Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (BCNCTKT).
Nói cách khác, BCNCTKT là sản phẩm cuối cùng của NCTKT, tổng hợp và trình bày toàn bộ các kết quả đánh giá, phân tích, và đề xuất phương án thực hiện. BCNCTKT không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về dự án mà còn đóng vai trò làm cơ sở pháp lý cho các bước tiếp theo, bao gồm nghiên cứu khả thi chi tiết và quyết định đầu tư chính thức.2 Quản lý nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng 1.1 Bộ máy quản lý nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng Bộ máy quản lý nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của dự án ngay từ giai đoạn đầu. Bộ máy này bao gồm các chủ đầu tư, các tổ chức tư vấn, và các bên liên quan khác, mỗi bên đều có những chức năng và nhiệm vụ cụ thể để đảm bảo quy trình nghiên cứu được thực hiện một cách toàn diện và chính xác. Xét về tổng thể bao quát, bộ máy nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng sẽ bao gồm các chủ thể là Chủ đầu tư (hoặc chủ thể cần phân tích tính khả thi trước khi đầu tư thực hiện như Tổng thầu ECP) và các đơn vị chuyên môn, đơn vị tư vấn và các chủ thể khác có khả năng cung cấp thông tin, nguồn lực trong hoạt động đầu tư sau này như ngân hàng, các đối tác hợp tác.
có sự thay đổi đôi chút trong quá trình thực hiện. Theo Đoàn Dương Hải (2022), giai đoạn nghiên cứu dự báo ban đầu sẽ chủ yếu do chủ đầu tư (nhà đầu tư) và các nhóm chuyên môn thực hiện, giai đoạn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi sẽ kết hợp thêm với các đơn vị tư vấn chuyên sâu. Chủ đầu tư là chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động đầu tư dự án. Chủ đầu tư có thể là các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức công, hoặc các tổ chức hợp tác công tư (PPP).
Họ cần phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan để thu thập thông tin cần thiết, lập kế hoạch dự án, và xác định các rủi ro tiềm ẩn. Chủ đầu tư cũng cần tìm kiếm và lựa chọn các nhà thầu tư vấn có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện nghiên cứu tiền khả thi. 7 Chủ thể cần nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng có thể là đơn vị tham gia đấu thầu gói tổng thầu Thiết kế - Mua sắm - Xây dựng (EPC) hay còn gọi là Tổng thầu EPC trước khi quyết định việc có tham gia đấu thầu một dự án hay không. Chủ đầu tư hay tổng thầu EPC sẽ là bên tổng hợp thông tin, báo cáo từ các chủ thể khác trong bộ máy nghiên cứu tiền khả thi để đưa ra kết quả cuối cùng là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và dựa vào đó để xem xét, quyết định đầu tư hay đấu thầu dự án.
Tổ chức tư vấn đóng vai trò hỗ trợ chủ đầu tư trong quá trình thực hiện BCNCTKT. Các tổ chức này cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp về kỹ thuật, tài chính, môi trường, và pháp lý. Họ giúp phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến dự án, từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu để nâng cao tính khả thi và hiệu quả của dự án. Các tổ chức tư vấn cũng giúp chủ đầu tư xây dựng các báo cáo cần thiết để trình cơ quan thẩm quyền phê duyệt.
Bên cạnh đó, các bên liên quan khác như các ngân hàng, các tổ chức tài chính, và cộng đồng địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong bộ máy quản lý nghiên cứu tiền khả thi. Các ngân hàng và tổ chức tài chính cung cấp nguồn vốn cho dự án, do đó họ cần thẩm định kỹ lưỡng tính khả thi và hiệu quả tài chính của dự án trước khi quyết định cấp vốn. Cộng đồng địa phương cần được tham vấn để đảm bảo dự án không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của họ. Quá trình quản lý nghiên cứu tiền khả thi cần phải được thực hiện theo các quy trình và tiêu chuẩn nhất định để đảm bảo tính khách quan và minh bạch.
Bộ máy quản lý cần thiết lập các quy trình giám sát và đánh giá tiến độ thực hiện, từ đó kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh.