Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 1. Một số vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm, vai trò của Ngân sách Nhà nước 1. Khái niệm về NSNN Tác giả Philip E.
Taylor (1948) của cuốn Tài chính công nổi tiếng đã định nghĩa “Ngân sách là chương trình tài chính chính yếu của Chính phủ. Tài liệu này tập trung các dữ liệu thu và chi trong khoảng thời gian của tài khóa, bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài trợ các hoạt động đó.” Có thể nói, ngân sách nhà nước là một kế hoạch tài chính khổng lồ của quốc gia mà quốc hội là người quyết định cho phép chính phủ thực hiện trong phạm vi một tài khóa xác định. (Nguyễn Văn Tuyến, 2022) Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ chín thông qua ngày 25/06/2015 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Năm ngân sách (còn được gọi là niên độ ngân sách hay năm tài chính hoặc tài khóa), mà trong đó, dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước đã được phê chuẩn của quốc hội có hiệu lực thi hành.
Hiện nay, ở tất cả các nước, năm ngân sách đều có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nước một khác. Đa số các nước, năm ngân sách trùng với năm dương lịch tức là bắt đầu từ 01/01 kết thúc vào 31/12 và ở Việt Nam, năm ngân sách cũng bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. Vai trò của ngân sách nhà nước * Một là, NSNN có vai trò huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước * Hai là, NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát. 6 * Ba là, NSNN là công cụ định huớng phát triển sản xuất * Bốn là, NSNN là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư 1.
Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 1. Hệ thống ngân sách Nhà nước Hệ thống ngân sách Nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ cơ hữu với nhau trong quá trình thực hiện việc thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Ngân sách các cấp bao gồm: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh) bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, tỉnh thuộc tỉnh. Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện) Bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phường, thị trấn.
- Ngân sách các xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã). Ngân sách Nhà nước Ngân sách Trung ương Ngân sách địa phương NS tỉnh và thành NS huyện, quận, NS xã, phường, phố trực thuộc thị xã, thành phố thị trấn Trung ương Sơ đồ 1.1: Hệ thống Ngân sách Nhà nước 1. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngân sách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền. Tổng quan về ngân sách xã 1.
Khái niệm, đặc điểm của Ngân sách xã 7 1. Khái niệm ngân sách xã Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử, phân định thành ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách Trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở Trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (tỉnh, huyện, xã).
Ngân sách Nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách xã là toàn bộ các khoản thu, chi được quy định trong DT hàng năm do HĐND cấp xã quyết định và giao cho UBND cấp xã thực hiện nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã. Đặc điểm ngân sách xã Là một cấp ngân sách trong hệ thống NSNN nên NSX cũng mang đầy đủ các đặc điểm chung của ngân sách các cấp chính quyền địa phương, đó là: - Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật. - Được quản lý và điều hành theo dự toán và theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định.
- Hoạt động thu chi của Ngân sách xã luôn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của chính quyền xã đã được phân cấp, đồng thời luôn chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước cấp xã - đó là HĐND cấp xã; - Ngân sách xã là cấp Ngân sách cuối cùng gắn chặt với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, là nơi trực tiếp giải quyết mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước và nhân dân. Mối quan hệ về lợi ích đó được thực hiện thông qua hoạt động thu, chi Ngân sách xã. Trên cơ sở đó, chính quyền cấp xã cũng đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Bên cạnh các đặc điểm chung, NSX còn có các đặc điểm riêng sau đây: Một là, NSX là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ sở.
Hoạt động của quỹ được thể hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu vào quỹ gọi là thu NSX, phân phối và sử dụng quỹ gọi là chi NSX. 8 Hai là, các chỉ tiêu thu chi NSX luôn mang tính pháp lý. Ba là, đằng sau quan hệ thu chi NSX là quan hệ lợi ích phát sinh trong quá trình thu chi NSX giữa hai chủ thể: một bên là lợi ích chung của cộng đồng cấp cơ sở mà đại diện là chính quyền cấp xã, một bên là các chủ thể kinh tế xã hội. Bốn là, NSX vừa là một cấp ngân sách, vừa là đơn vị dự toán, nó không có đơn vị dự toán trực thuộc nào, nó vừa tạo nguồn thu vừa phải phân bổ nhiệm vụ chi.
Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách xã 1. Nguồn thu của ngân sách xã Trong điều kiện triển khai thực thi Luật NSNN số 83/2015/QH13 đã được Quốc hội khoá XIII thông qua tại kỳ họp thứ chín ngày 25/06/2015, cơ cấu nguồn thu cho cấp xã ở các địa phương khác nhau sẽ do HĐND cấp tỉnh quyết định. Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, HĐND tỉnh, tỉnh trực thuộc Trung ương thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp ở địa phương. Các địa phương cũng có thể tham khảo những chỉ dẫn mà Bộ Tài chính đã đưa ra trong Thông tư số 344/2016/TT-BTCngày 30/12/2016 về phân định nguồn thu cho NSX như sau: * Các khoản thu Ngân sách xã hưởng 100% - Các khoản phí, lệ phí thu vào NSX theo quy định; - Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản; - Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách theo chế độ quy định; - Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân; - Viện trợ không hoàn lại do các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho NSX; - Thu kết dư NSX năm trước; - Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật.
* Các khoản thu Ngân sách xã được hưởng theo tỷ lệ điều tiết: - Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; - Thuế chuyển quyền sử dụng đất; - Thuế nhà đất; 9 - Tiền cấp quyền sử dụng đất; - Lệ phí trước bạ nhà, đất; - Thuế môn bài. - Đối với các khoản thu trên, NSX được hưởng tối thiểu 70%, tối đa là 100%. Ngoài các khoản thu phân chia theo quy định trên, HĐND cấp tỉnh còn có thể bổ sung thêm các nguồn thu phân chia cho xã nếu sau khi các khoản thuế, phí, lệ phí phân chia theo luật NSNN đã dành 100% cho xã và các khoản thu được hưởng 100% nhưng vẫn chưa cân đối được nhiệm vụ chi. Tỷ lệ phần trăm các khoản trên cho NSX do UBND tỉnh quy định và ổn định từ 3 - 5 năm, phù hợp với tình hình ngân sách địa phương.
Để giảm bớt khối lượng nghiệp vụ, khuyến khích tăng thu có thể giao chung cho các xã cùng một tỷ lệ. * Thu bổ sung từ Ngân sách cấp trên - Thu bổ sung để cân đối NS được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa dự toán chi theo các nhiệm vụ được giao và dự toán thu từ các nguồn thu được phân cấp. Số bổ sung này được xác định từ năm đầu thời kỳ ổn định và được giao ổn định từ 3 - 5 năm. - Thu bổ sung có mục tiêu là các khoản thu theo từng năm để hỗ trợ xã thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể.
Nhiệm vụ chi của Ngân sách xã * Chi đầu tư phát triển: Các khoản chi đầu tư phát triển thể hiện rõ mục đích tích luỹ, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi NSX nên trước khi quyết định đầu tư, UBND cấp xã cần xác định rõ sự cần thiết phải đầu tư, nguồn vốn đảm bảo cho công trình, tránh tình trạng quyết định đầu tư dàn trải khi chưa có nguồn đảm bảo làm tăng nợ XDCB, mất khả năng cân đối ngân sách. - Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của xã, không có khả năng thu hồi vốn theo phân cấp của tỉnh. - Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của từng xã từ nguồn huy động đóng góp của các tổ chức cá nhân cho từng dự án nhất định theo quy định của pháp luật, do HĐND xã quyết định đưa vào NSX quản lý. - Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật.