phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quản lý thu ngân sách nhà nƣớc trong quá trình phát triển Kinh tế - Xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nƣớc huyện Krông Năng từ năm 2011 đến nay. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Krông Năng.
6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 1. Thu ngân sách nhà nƣớc và vai trò của nó trong quá trình phát triển KT-XH 1. Khái niệm về quản lý thu ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước - Khái niệm: + Ngân sách nhà nƣớc, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nƣớc" đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nƣớc lại chƣa thống nhất, ngƣời ta đã đƣa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nƣớc tùy theo các trƣờng phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nƣớc là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân sách Nhà nƣớc của Việt Nam đã đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 25/6/2015 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [4, tr.
+ Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nƣớc gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phƣơng thức sản xuất của cộng đồng và nhà nƣớc của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nƣớc, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nƣớc. 7 + Ngân sách nhà nƣớc bao gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Ngân sách trung ƣơng là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ƣơng.
Ngân sách địa phƣơng bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân. - Bản chất của NSNN: + Về mặt pháp lý, bản chất NSNN là dự trù các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong một thời gian nhất định, thƣờng là một năm. NSNN ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của NSNN.
Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nƣớc, vai trò của Nhà nƣớc đối với đời sống kinh tế - xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của NSNN. + Về mặt kinh tế, bản chất NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Hoạt động của NSNN biểu hiện đa dạng dƣới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nƣớc ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội. Các khoản thu chi này đƣợc tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính đƣợc thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của NSNN là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu đƣợc tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân đƣợc sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của ngân sách Nhà nƣớc mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tƣ phát triển và tiêu dùng của xã hội. + Về tính chất xã hội, bản chất của NSNN là công cụ kinh tế của Nhà nƣớc.Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nƣớc và một bên là các chủ thể trong xã hội. Những quan hệ tài chính này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa 8 NSNN với các doanh nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN và các đơn vị hành chính sự nghiệp; Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cƣ và quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trƣờng tài chính. + Từ sự phân tích trên cho thấy NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc.
- Đặc trƣng của NSNN: Thứ nhất, về cơ cấu, NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu, khoản chi của Nhà nƣớc. Hình thức biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bảng liệt kê các khoản thu, khoản chi bằng tiền mặt của Nhà nƣớc đƣợc dự kiến và cho phép trong một khoảng thời gian nhất định [6, tr. Thứ hai, về mặt pháp lý, NSNN phải đƣợc cơ quan có thẩm quyền quyết định. Thẩm quyền quyết định NSNN, ở hầu hết các nƣớc là thuộc về các cơ quan đại diện (Nghị viện).
Ở Việt Nam, Quốc Hội là cơ quan có thẩm quyền thông qua và phê chuẩn ngân sách. Quốc Hội thảo luận và quyết định về tổng mức, cơ cấu và phân bổ NSTW. Mọi hoạt động thu chi ngân sách đều đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nƣớc ban hành [6, tr. Thứ ba, về thời gian thực hiện, theo quy định hiện hành, NSNN đƣợc dự toán và thực hiện trong một năm, năm này gọi là năm ngân sách hay năm tài khóa [6, tr.
- Chức năng của ngân sách Nhà nƣớc: NSNN có hai chức năng cơ bản đó là chức năng phân phối và chức năng giám sát, đôn đốc. + Chức năng phân phối: Phân phối của NSNN bao gồm phân phối thu nhập và cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ các nguồn lực tài chính. Đối tƣợng phân 9 phối của NSNN là các nguồn lực tài chính, thu nhập mới sáng tạo ra có liên quan đến Nhà nƣớc, phần do Nhà nƣớc làm chủ sở hữu, gắn với khả năng thu, chi, vay mƣợn của Chính phủ, gắn với việc hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc và có mối quan hệ chặt chẽ với các chủ thể khác trong nền kinh tế. Phạm vi phân phối của NSNN đƣợc giới hạn trong phạm vi các nghiệp vụ có liên quan đến quyền sở hữu và quyền lực chính trị của Nhà nƣớc.
Chức năng phân phối của NSNN đƣợc thực hiện thông qua phân phối nguồn lực tài chính khi cung cấp, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp mà Nhà nƣớc làm chủ sở hữu toàn bộ hay một phần hoặc chi cho đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn tập trung từ NSNN; thông qua phân phối thu nhập, đƣợc thực hiện khi phát sinh các nghiệp vụ thu và chi NSNN. Phân phối NSNN có mặt trong khâu phân phối lần đầu và phân phối lại kết quả kinh doanh thông qua thuế và chi tiêu công. Phân phối NSNN hƣớng vào việc giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, cơ sở thực hiện tái sản xuất mở rộng, xác lập cơ cấu kinh tế - xã hội hợp lý, làm nền tảng cho quá trình phát triển phù hợp với các quy luật khách quan. + Chức năng giám sát và đôn đốc: Chức năng giám sát và đôn đốc bắt nguồn từ bản chất NSNN, là một thuộc tính vốn có của nó.
Chức năng này đƣợc hiểu là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một cách thƣờng xuyên, liên tục cùng quá trình vận động của các đối tƣợng phân phối NSNN. Các đặc trƣng cơ bản của chức năng đôn đốc và giám sát NSNN: Thứ nhất, giám sát và đôn đốc NSNN đƣợc thực hiện bởi chủ thể Nhà nƣớc, thực tế thông qua các đại diện chính thức của Nhà nƣớc nhƣ Quốc hội, Chủ tịch nƣớc, HĐND, các cơ quan có trách nhiệm đƣợc ủy quyền nhƣ kiểm 10 toán Nhà nƣớc, thanh tra Nhà nƣớc,… Ngoài ra, giám sát và đôn đốc NSNN còn đƣợc thực hiện bởi công luận và báo chí. Thứ hai, công cụ giám sát và đôn đốc là các nghiệp vụ thống kê, nghiệp vụ kế toán - kiểm toán, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra tài chính, chế độ công khai tài chính - ngân sách và các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Thứ ba, giám sát và đôn đốc NSNN đƣợc thực hiện ở tầm vĩ mô và vi mô, trực tiếp và gián tiếp.
Giám sát và đôn đốc NSNN cung cấp thông tin về cân đối thu, chi NSNN, thực trạng thu, chi, tồn ngân quỹ NSNN, thực trạng gánh nặng nợ và khả năng thanh toán của Chính phủ. Giám sát và đôn đốc NSNN còn xem xét mức độ thực hiện chế độ, hạn mức chi NSNN tại cơ sở, việc chấp hành pháp luật tài chính tại các doanh nghiệp Nhà nƣớc và các đơn vị sử dụng NSNN. Thứ tư, giám sát và đôn đốc đƣợc thực hiện ở tất cả các khâu của chu kỳ phân phối của NSNN. - Hệ thống ngân sách Nhà nƣớc: Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách.
Tổ chức hệ thống NSNN Việt Nam dựa trên hai nguyên tắc sau: Một là, nguyên tắc thống nhất và tập trung, dân chủ. Nƣớc ta là một Quốc gia thống nhất, quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất, do đó chỉ có một NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách; Chính phủ thống nhất quản lý NSNN; Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nƣớc ta là nguyên tắc tập trung dân chủ, NSNN là công cụ của Nhà nƣớc, vì vậy hệ thống NSNN cũng đƣợc xây dựng theo nguyên tắc đó. Ở mỗi cấp chính quyền, HĐND thảo luận ngân sách cấp mình, nhƣng phải đƣợc UBND cấp trên và Chính phủ xét duyệt lại để thống nhất vào ngân sách cấp trên và NSTW. Ngân sách các cấp đều phải chấp hành các Luật, các Nghị quyết của 11 Quốc hội, các quyết định của Chính phủ về chế độ thu chi, các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu, mục lục NSNN và các quy định khác có liên quan.