Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Định hướng quản lý môi trường Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm địa sinh thái" do sinh viên Đào Trọng Vũ thực hiện (dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Văn Thanh, Bộ môn Địa lý Tự nhiên, Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2001 - 2005). Đề tài được xây dựng trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đang đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa với tốc độ gia tăng dân số nhanh chóng: từ 4,0 triệu người (năm 1985) tăng lên 5,2 triệu người (năm 2001), vượt mốc 6,1 triệu người vào đầu năm 2005 và dự kiến đạt 7,5 triệu người năm 2010, hướng tới 9,0 triệu người vào năm 2020. Với gần 700 xí nghiệp và gần 23.000 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đóng góp gần một phần ba tổng thu nhập cả nước, thành phố phải đối mặt với tình trạng quá tải hạ tầng đô thị, sự mất cân đối cung - cầu dịch vụ và áp lực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Về mặt thể chế, quản lý môi trường tại Việt Nam đã từng bước phát triển từ Pháp lệnh bảo vệ rừng (1972), quy định nhiệm vụ bảo vệ môi trường cho các ngành, địa phương (1982), Nghị quyết Chính phủ ngày 20/05/1995 về công tác điều tra cơ bản sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đến việc thành lập Chi cục Bảo vệ Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2004. Tuy nhiên, công tác quản lý còn thiếu các chiến lược thực tiễn mang tính liên vùng và liên ngành. Do đó, việc ứng dụng quan điểm địa sinh thái cảnh quan là yêu cầu cấp thiết nhằm dung hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:
- Đánh giá hiện trạng môi trường Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm các lĩnh vực: môi trường đất, nước và không khí).
- Đánh giá hiện trạng các hệ địa sinh thái của thành phố (bao gồm hệ địa sinh thái nông nghiệp, hệ địa sinh thái đô thị - khu công nghiệp, hệ địa sinh thái rừng ngập mặn và hệ địa thủy vực sông Sài Gòn).
- Phân vùng hệ địa sinh thái thành phố nhằm định hướng quản lý môi trường.
- Đưa ra các đề nghị can thiệp nhằm ngăn chặn sự xuống cấp của môi trường đô thị.
Nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm gồm:
- Đánh giá hiện trạng cơ bản của môi trường thành phố qua các thành phần môi trường nước, đất, không khí và hiện trạng các hệ địa sinh thái.
- Mô tả các vùng địa sinh thái để làm rõ sự phân hóa lãnh thổ, từ đó đề xuất định hướng quản lý phù hợp cho từng vùng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các địa hệ sinh thái, mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên với tự nhiên, tự nhiên với kinh tế - xã hội, kinh tế - xã hội với kinh tế - xã hội và hiện trạng môi trường của các hệ thống này.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh với tổng diện tích 2.039,7 km² (tương đương 209.370 ha), tọa độ địa lý từ 10°22'13" đến 11°22'17" vĩ độ Bắc và từ 106°01'25" đến 107°01'10" kinh độ Đông, bao gồm 24 quận, huyện (19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ).
- Phạm vi phương pháp: Khóa luận giới hạn ở việc xử lý, phân tích các chỉ tiêu môi trường dựa trên cơ sở dữ liệu có sẵn (đến giai đoạn 2002 - 2004), không thực hiện lấy mẫu phân tích thực nghiệm trong phòng thí nghiệm; không đi sâu vào cấu trúc chức năng chi tiết ở cấp vi mô mà tập trung phác thảo các định hướng quản lý môi trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên hai quan điểm chủ đạo:
- Quan điểm lãnh thổ: Nhấn mạnh tính thống nhất, tương tác hữu cơ giữa môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội; môi trường tự nhiên vừa cung cấp tài nguyên, không gian, vừa là nơi tiếp nhận, đồng hóa chất thải từ hoạt động kinh tế và sinh hoạt.
- Quan điểm hệ thống và địa sinh thái: Vận dụng lý thuyết hệ thống động lực hở tự điều chỉnh của Viện sĩ I.P. Gerasimov (Địa lý học và sinh thái) và PGS. Vũ Tự Lập (1987). Địa hệ sinh thái (Ecological geosystem) thể hiện sự thống nhất biện chứng giữa giới vô cơ và hữu cơ, được xác định bởi ranh giới rõ ràng, dòng vật chất - năng lượng - thông tin (cửa vào và cửa ra), khả năng tự điều chỉnh và các chuỗi diễn thế sinh thái biến đổi thuận nghịch hoặc không thuận nghịch. Hệ thống phân vị nghiên cứu áp dụng thang phân bậc: xứ - đới - miền - khu - cảnh - dạng - diện.
Về lịch sử nghiên cứu, đề tài kế thừa các công trình phân vùng tiêu biểu:
- Công trình phân vùng địa lý tự nhiên Việt Nam của GS. Vũ Tự Lập (chia 3 miền, 13 khu địa lý tự nhiên; chọn địa chất - khí hậu phân chia cấp miền, địa mạo - thổ nhưỡng phân chia cấp khu).
- Ứng dụng tiếp cận hệ thống lập bản đồ sinh thái nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ 1/25.000 của Trần An Phong và cộng sự.
- Nghiên cứu phân vùng địa sinh thái đất ngập nước Đồng Tháp Mười của ThS. Trần Văn Thanh.
- Nghiên cứu các thể tổng hợp địa lý tự nhiên trong cấu trúc cảnh quan ngoại thành TP.HCM của Đoàn Ngọc Nam (phân chia cảnh quan ngoại thành thành 3 thể tổng hợp với 7 á thể).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm 4 phương pháp chính:
- Phương pháp xử lý thông tin: Thu thập dữ liệu môi trường và địa sinh thái từ các công trình nghiên cứu, niên giám thống kê giai đoạn 2001 - 2004; đối chiếu chéo số liệu giữa các nguồn ban hành; so sánh với Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và tiêu chuẩn cho phép (TCCP).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý định lượng, đối chiếu số liệu quan trắc môi trường với tiêu chuẩn chất lượng; phân tích tổng hợp đặc trưng của từng hệ địa sinh thái theo mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp thực địa: Khảo sát thực tế các dạng ô nhiễm và cảnh quan hệ địa sinh thái; quan sát trực quan đối chứng tài liệu; điều tra, phỏng vấn tại địa phương và ghi nhận tư liệu hình ảnh.
- Phương pháp bản đồ: Sử dụng phương pháp chập (chồng xếp) bản đồ đơn tính để xác định ranh giới các đơn vị địa sinh thái cảnh quan trên cơ sở tích hợp các thành phần tự nhiên (địa mạo, trầm tích, thổ nhưỡng, thủy văn) và kinh tế - xã hội.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản được tổng hợp từ Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM, Viện Môi trường và Tài nguyên (ĐHQG TP.HCM), Phân viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, Liên đoàn Địa chất Thủy văn - Địa chất Công trình miền Nam và miền Bắc, Niên giám thống kê TP.HCM và các tài liệu chuyên khảo về khí hậu Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý do chọn đề tài, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phạm vi nghiên cứu và lịch sử nghiên cứu đề tài
Chương này thiết lập cơ sở khoa học và tính cấp thiết của đề tài; xác định rõ 4 mục tiêu, 2 nhiệm vụ, phạm vi không gian 2.039,7 km² cùng giới hạn nội dung nghiên cứu. Tác giả tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu về địa lý học sinh thái, lý thuyết hệ sinh thái cảnh quan trên thế giới (I.P. Gerasimov) và các ứng dụng phân vùng sinh thái tại Việt Nam (Vũ Tự Lập, Trần An Phong, Trần Văn Thanh, Đoàn Ngọc Nam).
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả trình bày phương pháp luận tiếp cận hệ thống, quan điểm lãnh thổ trong phát triển bền vững và bản chất của địa hệ sinh thái như một hệ thống động lực hở có dòng vật chất, năng lượng ra vào. Chương này chi tiết hóa quy trình 4 bước nghiên cứu (chọn đề tài, sưu tầm xử lý tài liệu, xây dựng nội dung, viết và hoàn chỉnh văn bản 128 trang, 12 bảng số liệu, bản đồ và 3 biểu đồ) kết hợp 4 phương pháp kỹ thuật: xử lý thông tin, phân tích - tổng hợp, thực địa và chồng xếp bản đồ đơn tính.
Chương 3: Hiện trạng môi trường TP.HCM
Chương 3 tập trung phân tích tổng quan các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đánh giá hiện trạng ô nhiễm các thành phần môi trường vật lý cùng 4 hệ địa sinh thái:
- Điều kiện tự nhiên:
- Địa chất - thổ nhưỡng: Đất đai hình thành trên hai tướng trầm tích chính gồm trầm tích Pleixtoxen (phù sa cổ) tạo nên hơn 45.000 ha đất xám (23,4% diện tích, tập trung ở Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức, Quận 9; đất chua pH ~ 4,0, nghèo dinh dưỡng nhưng tầng dày) và trầm tích Holoxen (phù sa trẻ) tạo nên 15.100 ha đất phù sa (7,8%), 40.800 ha đất phèn và 45.500 ha đất phèn mặn (trong đó đất phèn mặn theo mùa chiếm 10.500 ha ở Nhà Bè và Bắc Cần Giờ; đất mặn dưới rừng ngập mặn chiếm 35.000 ha ở Cần Giờ với pH > 5,0). Ngoài ra có hơn 400 ha giồng cát và đất feralit vàng nâu.
- Địa mạo: Gồm 3 bậc thềm: Bậc thềm I (vùng trũng thấp 0,5 - 2,0m ở phía Nam - Tây Nam và Đông Nam); Bậc thềm II (vùng trung bình 3,5 - 10m tại trung tâm và nội thành cũ); Bậc thềm III (vùng cao 10 - 25m, đỉnh cao 32m ở đồi Long Bình, Quận 9).
- Thủy văn: Mạng lưới sông rạch có mật độ 3,5 - 4,0 km/km² chịu tác động của chế độ bán nhật triều biển Đông (biên độ triều tháng lớn nhất trên sông Đồng Nai đạt 1,62m vào tháng 5, trên sông Sài Gòn đạt 1,78m vào tháng 7; đỉnh triều cao nhất 1,38m, thấp nhất -2,4m). Sông Đồng Nai có lưu lượng bình quân 200 - 500 m³/s (mùa lũ đạt 10.000 m³/s, cấp 15 tỷ m³ nước/năm); sông Sài Gòn dài 200 km (đoạn qua thành phố dài 80 km, lưu lượng 54 m³/s, rộng 225 - 370m, sâu tới 20m). Hoạt động điều tiết của hồ Dầu Tiếng và hồ Trị An giúp đẩy lùi ranh mặn 4‰ từ 15 - 20 km về mùa kiệt, làm ngọt hóa hàng vạn hecta tại Thủ Đức, Quận 2, Quận 9, Bình Chánh.
- Khí hậu: Bức xạ trung bình 140 kcal/cm²/năm, cán cân bức xạ 94 kcal/cm²/năm, số giờ nắng 160 - 270 giờ/tháng, tổng nhiệt độ 9.878°C, nhiệt độ trung bình 27°C (dao động từ 13,8°C đến 40°C). Lượng mưa bình quân 1.949 mm/năm (90% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11). Độ ẩm không khí trung bình năm đạt 79,5%.
- Thảm thực vật: 3 kiểu lập địa tương ứng với 3 hệ sinh thái thực vật: Rừng nhiệt đới ẩm mưa mùa Đông Nam Bộ (ưu thế họ Dầu Dipterocarpaceae: Dầu lông, Sến mủ, Vên vên, Sao đen, Dầu rái hỗn giao Cẩm xe, Bằng lăng ổi); Rừng úng phèn (Tràm Melaleuca leucadendron, cỏ Năng, cỏ Mồm, Ráng dại); Rừng ngập mặn Cần Giờ (104 loài thuộc 48 họ, ưu thế loài Đước Rhizophora apiculata, Mắm trắng Avicennia alba, Mắm đen Avicennia officinalis, Bần trắng Sonneratia alba).
- Dân cư và lao động: Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 67,2% (1999) lên 82,8% (2003); dân số cơ học tăng nhanh và dịch chuyển mạnh ra các quận ven.
- Hiện trạng chất thải rắn và ô nhiễm đất: Thành phố thải ra gần 5.000 tấn rác/ngày (thu gom đạt ~80% với khối lượng 4.213 tấn/ngày, 20% còn lại bị xả thải bừa bãi vào kênh rạch hoặc đốt/ủ phân). Thành phần rác: 58,75% chất hữu cơ, 40% xà bần và bùn cống, 1,25% rác khác. Thành phố có 3 bãi rác: Đông Thạnh (hơn 10 ha, đã đóng cửa do không có màng chống thấm gây ô nhiễm nước ngầm và vỡ bờ bao), Gò Cát (quy mô nhỏ, tạm thời), Tam Tân (vận hành từ 2001). Vùng đất trồng rau bị tích lũy kim loại nặng vượt ngưỡng an toàn: Coban (Co) từ 9,9 - 15 mg/kg, Crom (Cr) từ 23 - 59 g/kg; đất rau Hóc Môn có hàm lượng Chì (Pb) tầng mặt đạt 89 mg/kg.
- Hiện trạng môi trường nước:
- Nước mặt: Sông Đồng Nai bị ô nhiễm hữu cơ nhẹ (DO = 4 - 6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l) nhưng ô nhiễm dầu mỡ và vi sinh, hàm lượng dầu tại trạm Hóa An đạt 0,04 - 0,1 mg/l (vượt chuẩn nguồn cấp nước sinh hoạt 0 mg/l). Sông Sài Gòn ô nhiễm nghiêm trọng (DO = 1,5 - 5,5 mg/l, BOD = 10 - 30 mg/l), bị axit hóa tại Hóc Môn - Củ Chi (pH = 4,5); dầu mỡ tại trạm Nhà Bè vượt chuẩn 1,2 - 1,5 lần.
- Nước ngầm: Bị nhiễm vi sinh Coliform trên diện rộng dao động từ 1 - 150 MNP/100ml (tiêu chuẩn < 3 MNP/100ml). Nhiễm Asen cao cục bộ tại Bình Mỹ (Củ Chi) từ 30,1 ppb; nhiễm Chì (Pb) tại Bình Mỹ và bãi rác Đông Thạnh đạt 50,1 - 55,6 ppb (chuẩn 50 ppb). Mực nước ngầm tại Bình Chánh bị hạ thấp xuống 25,28m (năm 2003) và dự báo tiếp tục hạ xuống 25,92m.
- Hiện trạng môi trường không khí: Số lượng phương tiện cơ giới tăng từ 1,0 triệu xe (1994) lên 2,2 triệu xe (2004). Kết quả quan trắc 557 điểm cho thấy 15% mẫu vượt tiêu chuẩn chất lượng không khí, 16% vượt nồng độ bụi, 13% vượt nồng độ SiO2. Tại ngã tư Hàng Xanh khói thải vượt 10 - 20 lần; tại vòng xoay Hàng Xanh, Phú Lâm, ngã tư Đinh Tiên Hoàng - Điện Biên Phủ, nồng độ bụi và khí CO vượt tiêu chuẩn từ 1,2 đến 3 lần.
- Hiện trạng hệ địa sinh thái nông nghiệp và công trình thủy lợi: Đất nông nghiệp chiếm 45% diện tích tự nhiên (>50% phèn mặn, gần 20% đất xám đồi gò). Hệ thống thủy lợi thành phố đã xây dựng 190 km bờ bao sông lớn (Cần Giờ: 40 km, Nhà Bè: 18 km, Bình Chánh: 95 km, Thủ Đức: 36 km) và hơn 1.000 km bờ bao nội đồng. Các công trình tiêu biểu gồm: nạo vét cải tạo hơn 16.000 ha úng thủy dọc kênh Xáng; khắc phục 10.000 ha úng ngập vùng Bến Mương - Láng The; vận hành hệ thống thủy nông Củ Chi 12.000 ha; xây dựng cầu máng bê tông cốt thép N31A thuộc kênh Đông; tưới tự chảy hơn 13.000 ha; tạo nguồn tưới và đẩy mặn trên 25.000 ha; tiêu thoát chống úng gần 50.000 ha; ngăn triều cường 14.000 ha; cải tạo hơn 20.000 ha đất ngập phèn hoang hóa ven kênh Thầy Cai - An Hạ.
Chương 4: Định hướng quản lý môi trường theo quan điểm địa hệ sinh thái
Chương 4 xây dựng hệ thống phân vùng địa sinh thái dựa trên các chỉ tiêu phân hóa tự nhiên (mối quan hệ trầm tích - địa mạo, địa mạo - thổ nhưỡng, địa mạo - thủy văn) kết hợp nhân tố nhân văn. Kết quả phân chia lãnh thổ thành các đơn vị cảnh quan:
- Cảnh sinh thái tự nhiên: Cảnh sinh thái vùng đồi gò (trên trầm tích Pleixtoxen, đất xám thoát nước nhanh), Cảnh sinh thái đồng bằng phù sa (trên trầm tích Holoxen, đất phù sa ngọt), Cảnh sinh thái đồng bằng phù sa đang phát triển (vùng trũng phèn mặn ngập triều Nhà Bè - Cần Giờ).
- Các địa hệ sinh thái nhân văn: Hệ sinh thái đô thị - công nghiệp, hệ sinh thái nông nghiệp tập trung.
- Định hướng quản lý: Đề xuất khung quản lý sinh thái - sinh vật, thiết lập chỉ tiêu quản lý môi trường theo đặc thù từng tiểu vùng, xác định đối tượng quản lý và cơ chế tổ chức quản lý liên ngành, gắn kết phân vùng sinh thái với quy hoạch kinh tế - xã hội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa các chỉ số quan trắc môi trường và hiện trạng địa sinh thái trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:
| Thành phần môi trường / Chỉ tiêu |
Hiện trạng quan trắc ghi nhận trong văn bản |
Tiêu chuẩn / Ngưỡng đối chiếu |
Đánh giá & Vị trí điển hình |
| Đất xám (trên phù sa cổ) |
Diện tích > 45.000 ha (23,4%); pH ~ 4,0 |
Đất chua, nghèo dinh dưỡng |
Phân bố ở Củ Chi, Hóc Môn, Bắc Bình Chánh, Thủ Đức, Quận 9 |
| Đất phèn & Đất phèn mặn |
Đất phèn 40.800 ha; Đất phèn mặn 45.500 ha |
pH tầng sinh phèn xuống tới 2,0 - 2,5 |
Phân bố ở Tây Nam Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ |
| Kim loại nặng trong đất rau |
Co: 9,9 - 15 mg/kg; Cr: 23 - 59 g/kg; Pb: 89 mg/kg |
Vượt ngưỡng an toàn nông phẩm |
Ghi nhận tại các vùng rau chuyên canh Hóc Môn, TP.HCM |
| Chất thải rắn sinh hoạt |
Gần 5.000 tấn/ngày (58,75% hữu cơ; 40% bùn/xà bần) |
Thu gom ~80% (4.213 tấn/ngày) |
Bãi rác Đông Thạnh đóng cửa do ô nhiễm; bãi rác Tam Tân vận hành từ 2001 |
| Nước mặt - Sông Sài Gòn |
DO = 1,5 - 5,5 mg/l; BOD = 10 - 30 mg/l; pH = 4,5 |
Không đạt TCVN nguồn loại A |
Ô nhiễm hữu cơ, vi sinh nghiêm trọng; axit hóa đoạn Củ Chi - Hóc Môn |
| Nước mặt - Sông Đồng Nai |
DO = 4 - 6 mg/l; BOD = 4 - 8 mg/l; Dầu: 0,04 - 0,1 mg/l |
Dầu mỡ vượt chuẩn cấp nước (0 mg/l) |
Đo đạc tại trạm Hóa An (khu vực lấy nước Thủ Đức) |
| Nước ngầm - Coliform & Pb |
Coliform: 1 - 150 MNP/100ml; Pb: 50,1 - 55,6 ppb |
Coliform < 3 MNP/100ml; Pb ≤ 50 ppb |
Coliform nhiễm diện rộng; Pb vượt chuẩn tại Bình Mỹ và Đông Thạnh |
| Không khí - Bụi & Khói thải |
16% mẫu vượt chuẩn bụi; 13% vượt SiO2; khói vượt 10 - 20 lần |
Vượt ngưỡng TCCP từ 1,2 - 3,0 lần |
Ô nhiễm tại vòng xoay Hàng Xanh, Phú Lâm, ngã tư Đinh Tiên Hoàng |
| Thủy lợi cải tạo đất |
Bờ bao sông lớn 190 km; Bờ bao nội đồng > 1.000 km |
Cải tạo > 20.000 ha phèn hoang hóa |
Hệ thống Củ Chi 12.000 ha, kênh Đông N31A, chống úng gần 50.000 ha |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Về quản lý kỹ thuật và hạ tầng: Chấm dứt các hình thức chôn lấp chất thải hở không đạt chuẩn kỹ thuật (như trường hợp bãi rác Đông Thạnh gây rò rỉ nước ngầm); đầu tư công nghệ hiện đại cho bãi rác Tam Tân; tổ chức phân loại và xử lý riêng biệt chất thải công nghiệp độc hại và rác thải y tế để tránh phát sinh dioxin khi đốt; kiểm soát khí thải phương tiện giao thông cũ và quy hoạch di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm xen kẽ trong khu dân cư.
- Về quản lý sinh thái và nông - lâm nghiệp: Khai thác hiệu quả các công trình thủy lợi (kênh Đông, hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An) để duy trì nguồn nước tưới tự chảy và đẩy mặn cho vùng hạ lưu; áp dụng mô hình nông - lâm - ngư kết hợp tại vùng phèn mặn Nhà Bè, Cần Giờ; bảo tồn nghiêm ngặt 35.000 ha rừng ngập mặn Cần Giờ nhằm phòng hộ ven biển, cố định bãi bồi và duy trì cân bằng sinh thái.
- Về phân vùng và tổ chức quản lý: Áp dụng phương thức quản lý môi trường theo ranh giới phân vùng địa hệ sinh thái tự nhiên thay vì chia cắt theo địa giới hành chính đơn thuần; nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm và xây dựng chính sách của Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM.
Đóng góp khoa học do tác giả tự nêu:
Khóa luận đã vận dụng sáng tạo phương pháp luận địa sinh thái cảnh quan vào điều kiện thực tiễn của một đô thị đang phát triển nhanh; thiết lập mối liên hệ định lượng giữa cấu trúc tự nhiên (địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn) với các hoạt động kinh tế - xã hội, cung cấp luận cứ khoa học định hướng công tác quản lý môi trường tổng hợp cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các hạn chế nội tại:
- Hạn chế về nguồn lực: Do giới hạn về thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu, nguồn tài liệu và khả năng tài chính của sinh viên thực hiện.
- Hạn chế về phương pháp và dữ liệu: Đề tài chỉ khai thác và phân tích các chỉ tiêu môi trường dựa trên các nguồn số liệu quan trắc có sẵn (đến năm 2002 - 2004), chưa tiến hành lấy mẫu và phân tích thực nghiệm độc lập tại hiện trường.
- Hạn chế về nội dung: Đề tài chưa đi sâu phân tích cấu trúc chức năng chi tiết của các đơn vị địa sinh thái ở cấp vi mô; các đề xuất dừng lại ở việc phác thảo khung định hướng quản lý mang tính vĩ mô.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiến hành quan trắc, lấy mẫu thực nghiệm chi tiết về dòng năng lượng, chu trình sinh địa hóa và khả năng tự làm sạch của từng hệ địa sinh thái cụ thể.
- Thành lập bản đồ phân vùng địa sinh thái chi tiết ở tỷ lệ lớn hơn và xây dựng bộ công cụ chỉ số quản lý môi trường chuyên biệt cho từng vùng cảnh quan đô thị, công nghiệp, nông nghiệp và khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Địa lý Tự nhiên, Địa lý Cảnh quan, Quản lý Môi trường, Khoa học Môi trường, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn, Quản lý Đất đai.
- Người nghiên cứu các đề tài về phân vùng chức năng môi trường, đánh giá tác động môi trường đô thị hóa và quản lý tổng hợp tài nguyên nước vùng hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn.
Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phương pháp luận tiếp cận địa hệ sinh thái của I.P. Gerasimov và Vũ Tự Lập kết hợp quy trình ứng dụng phương pháp chồng xếp bản đồ đơn tính trong phân vùng cảnh quan.
- Hệ thống dữ liệu tổng hợp về đặc trưng địa mạo 3 bậc thềm, hai tướng trầm tích Pleixtoxen - Holoxen và đặc tính lý hóa của các nhóm đất xám, đất phù sa, đất phèn và đất mặn tại TP.HCM.
- Bảng số liệu chi tiết về hiện trạng chất lượng nước sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, chất lượng nước ngầm tầng Pleixtoxen - Pliôxen và các chỉ số cải tạo đất của hệ thống thủy lợi TP.HCM sau năm 1975.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận tiếp cận vấn đề quản lý môi trường TP.HCM dựa trên khung lý thuyết nền tảng nào?
Khóa luận vận dụng quan điểm lãnh thổ và quan điểm địa hệ sinh thái (Ecological geosystem) của Viện sĩ I.P. Gerasimov và PGS. Vũ Tự Lập, xem địa hệ sinh thái là hệ thống động lực hở tự điều chỉnh, kết hợp phương pháp luận phân vùng cảnh quan tự nhiên của các tác giả Trần Văn Thanh, Đoàn Ngọc Nam và Vũ Tự Lập.
Các nhóm đất chính tại TP.HCM được phân chia theo nguồn gốc trầm tích như thế nào?
Đất đai TP.HCM hình thành trên hai tướng trầm tích: trầm tích Pleixtoxen (phù sa cổ) tạo nên nhóm đất xám (hơn 45.000 ha, chiếm 23,4% diện tích); trầm tích Holoxen (phù sa trẻ) tạo nên đất phù sa (15.100 ha, chiếm 7,8%), đất phèn (40.800 ha) và đất phèn mặn (45.500 ha, bao gồm 10.500 ha phèn mặn theo mùa và 35.000 ha đất mặn dưới tán rừng ngập mặn Cần Giờ).
Chất lượng nước mặt tại sông Sài Gòn và sông Đồng Nai được ghi nhận ô nhiễm ra sao?
Sông Sài Gòn bị ô nhiễm nghiêm trọng về hữu cơ và vi sinh (DO chỉ từ 1,5 - 5,5 mg/l, BOD từ 10 - 30 mg/l), bị axit hóa tại Hóc Môn - Củ Chi (pH = 4,5). Sông Đồng Nai ô nhiễm hữu cơ nhẹ hơn (DO = 4 - 6 mg/l, BOD = 4 - 8 mg/l) nhưng bị nhiễm dầu mỡ tại trạm Hóa An (0,04 - 0,1 mg/l), không đạt tiêu chuẩn nguồn nước loại A cấp cho sinh hoạt.
Hệ thống thủy lợi sau năm 1975 đã mang lại những kết quả cải tạo môi trường nông nghiệp cụ thể nào?
Ngành thủy lợi thành phố đã xây dựng 190 km bờ bao sông lớn, hơn 1.000 km bờ bao nội đồng, nạo vét cải tạo trên 16.000 ha đất úng thủy dọc kênh Xáng, khắc phục 10.000 ha úng ngập vùng Bến Mương - Láng The, phát triển hệ thống thủy nông Củ Chi 12.000 ha, tưới tự chảy hơn 13.000 ha (kênh Đông N31A), đẩy mặn trên 25.000 ha, chống ngập gần 50.000 ha và cải tạo hơn 20.000 ha đất phèn hoang hóa ven kênh Thầy Cai - An Hạ.
Văn bản khóa luận nêu rõ những hạn chế phương pháp nào trong quá trình thực hiện?
Tác giả nêu rõ đề tài chỉ khai thác, xử lý các chỉ tiêu môi trường dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp có sẵn từ các cơ quan chức năng đến giai đoạn 2002 - 2004, không tiến hành lấy mẫu phân tích thực nghiệm độc lập và không đi sâu vào cấu trúc chức năng chi tiết ở cấp vi mô của từng đơn vị địa sinh thái.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Trọng Vũ đã hệ thống hóa toàn diện hiện trạng môi trường vật lý và các hệ địa sinh thái tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đô thị hóa nhanh đầu thập niên 2000. Bằng việc kết hợp quan điểm địa sinh thái cảnh quan với phương pháp chồng xếp bản đồ phân tích mối quan hệ trầm tích - địa mạo - thổ nhưỡng - thủy văn, đề tài đã xác lập cơ sở khoa học cho công tác phân vùng lãnh thổ. Kết quả nghiên cứu cung cấp khung định hướng quản lý môi trường liên ngành, góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ các cảnh quan tự nhiên đặc thù của thành phố.