Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung ph n t ch, dữ liệu và cách tiếp cận Chương 3: Đánh giá thực trạng công tác quản lý KPNSNN cấp cho hoạt động VPTU Đồng Tháp thời gian qua. Chương 4: Quản lý KPNSNN cấp cho hoạt động Văn phòng Tỉnh ủy Đồng Tháp theo kết quả đầu ra. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chƣơng 2. KHUNG PHÂN TÍCH, DỮ LIỆU VÀ CÁCH TIẾP CẬN 2.
NSNN Thuật ngữ “ng n s ch” xuất xứ từ c c nước phương T y (T y Âu và Bắc Mỹ) trong thời kỳ công nghiệp hóa vào thế kỷ XVII và XIX, có nghĩa là chiếc túi của nhà vua chứa tiền để sử dụng cho những khoản chi tiêu công cộng. Thời bấy giờ, các khoản chi tiêu cho công cộng và các khoản chi tiêu cho hoàng gia được sử dụng chung nguồn ngân sách này mà không có sự phân biệt rõ ràng Khi Nhà nước tư sản ra đời, nền kinh tế phát triển, giai cấp tư sản yêu cầu phải tách biệt rõ ràng các khoản chi tiêu phục vụ hoạt động của nhà nước và các khoản chi tiêu của những cá nhân làm việc trong bộ m y nhà nước từ nguồn ngân sách chung. Vì vậy, thuật ngữ NSNN được hình thành và sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Cho đến nay, có rất nhiều quan niệm về NSNN do các cách tiếp cận khác nhau của nhiều tác giả.
Trong thực tiễn, khái niệm ng n s ch thường để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định. Một bảng t nh to n c c chi ph để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chương trình cho một mục đ ch nhất định của một chủ thể nào đó Nếu chủ thể đó là Nhà nước thì được gọi là NSNN. Theo quan điểm của c c nước hiện nay, NSNN hay ngân sách Chính phủ là tài liệu Chính phủ trình bày “dự to n” c c khoản thu và chi tiêu của Chính phủ cho một năm tài ch nh, thường được thông qua bởi cơ quan lập ph p NSNN cũng được gọi là b o c o tài ch nh hàng năm của đất nước. Tài liệu này ước tính các khoản thu của Chính phủ và chi tiêu Chính phủ trong năm tài ch nh tiếp theo.
Ở Việt Nam, Luật NSNN (2015) đã định nghĩa “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” Như vậy, có thể hiểu NSNN là một kế hoạch thu - chi của Nhà nước cho từng năm ng n s ch và nội dung kinh tế của NSNN phản ánh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 các quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Quản lý NSNN Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức và quản lý thống nhất theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ. NSNN Việt Nam được tổ chức theo hai cấp: ngân sách trung ương và ng n s ch địa phương, trong đó ng n s ch địa phương gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã (Luật NSNN năm 2015) Ng n s ch trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn thu lớn và các nhiệm vụ chi quan trọng. Ngân sách cấp dưới được trợ cấp từ ngân sách cấp trên, chịu sự chi phối của ngân sách cấp trên nhằm đảm bảo c n đối của ngân sách cấp mình.
Mỗi cấp chính quyền (tỉnh, huyện, xã) được quyền chi phối ngân sách cấp mình. Quản lý NSNN ở Việt Nam được phân cấp như sau: Chính phủ giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý ngân sách gồm thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách; phân cấp nguồn thu và phân cấp nhiệm vụ chi; trách nhiệm của các cấp trong chu trình ngân s ch Để thực hiện mục tiêu chung về chính sách phát triển, đảm bảo công bằng và phát triển c n đối giữa c c vùng, c c địa phương. Trong trường hợp có sự mất c n đối vùng miền hay thực hiện mục tiêu của trung ương thì ng n s ch trung ương sẽ bổ sung cho ngân s ch địa phương. Khoản bổ sung này là nguồn thu của ngân sách cấp dưới Trường hợp cơ quan cấp trên uỷ quyền cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thì phải chuyển kinh phí cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Để việc phân cấp quản lý NSNN đạt hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc: phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh của quốc gia và năng lực quản lý của các cấp; đảm bảo vai trò chủ đạo của ng n s ch trung ương và t nh độc lập của ngân s ch địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất, đồng thời thực hiện nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN (Luật NSNN năm 2015) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Văn phòng Tỉnh ủy Theo Tỉnh ủy Đồng Tháp (2015), VPTU là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ban chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Thường trực Tỉnh uỷ trong việc điều hành, lãnh đạo; VPTU đề xuất chủ trương, ch nh s ch về kinh tế - xã hội, đối ngoại, quản lý tài chính; tổng hợp thông tin phục vụ sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ. VPTU là đại diện cho chủ sở hữu tài sản của Tỉnh uỷ; chịu trách nhiệm quản lý tài chính, tài sản, ng n s ch đảng Hướng dẫn nghiệp vụ văn phòng, tài ch nh, tài sản của Đảng cho tổ chức đảng trực cấp dưới; thực hiện giám sát, kiểm tra về tài chính ở các tổ chức Đảng trực thuộc Tỉnh uỷ. Lý thuyết về quản lý NSNN Cùng với sự phát triển của nền tài chính công, lý thuyết quản lý NSNN có sự phát triển, cụ thể: 2. Quản lý ngân sách theo hạng mục Lập ngân sách theo hạng mục hay lập ng n s ch theo đầu vào, là hướng về việc x c định nguồn lực sử dụng bao nhiêu, nhân lực, hoạt động cho một chương trình hay một bộ, môt cơ quan, một đơn vị.
Tổng số tiền được chi tiêu cho một chương trình hay vấn đề thường là đo lường công việc thực hiện chính khi quản lý theo đầu vào. Thông tin quản lý nội bộ của hệ thống đầu vào không biểu hiện nguồn lực gì đã mua trên thực tế mà thường tập trung vào đầu vào liên quan đến những quy định, có nghĩa là liên quan đến tiêu chuẩn, nguyên tắc mà đầu vào sắp xếp như thế nào, những vật được làm ra sao (Kristensen, 2002). Lập ngân sách theo hạng mục, nói cách khác, là cách lập ngân sách căn cứ việc phân loại các khoản chi theo từng hạng mục C c đơn vị quản lý ngân sách và sử dụng ngân sách sẽ tiến hành lập danh sách các loại đầu vào theo từng hạng mục và tính toán số tiền của từng hạng mục sau đó đưa vào dự to n ng n s ch cho đơn vị mình với mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị hằng năm hơn là hướng đến tính tiết kiệm, tính phù hợp trong quá trình quản lý ng n s ch và không hướng đến sự gắn kết giữa chính sách với ngân sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Lập ng n s ch theo đầu vào phù hợp đối với trường hợp ngân sách có quy mô nhỏ, định mức chi tiêu thấp, phân bổ ng n s ch mang t nh bình qu n và c c đơn vị sử dụng ng n s ch luôn có xu hướng gia tăng chi tiêu hoặc họ sẽ lãng ph hơn nếu họ được phép chi tiêu linh hoạt hơn từ ngân sách.
Các quốc gia OECD đã chuyển dần từ quản lý ngân sách theo đầu vào sang quản lý ngân sách dựa trên KQĐR (OECD, 2002) Trước năm 2000, Việt Nam cũng đã p dụng lập ng n s ch theo đầu vào. Với cách thức này, c c đơn vị sử dụng ngân sách sẽ lập dự toán ngân sách theo từng hạng mục mà đơn vị mình sẽ sử dụng và chỉ được chi tiêu bằng hoặc thấp hơn mức đã dự toán theo từng hạng mục Không được chuyển ngân sách thừa của hạng mục này cho hạng mục khác trong cùng một đơn vị Ch nh điều này đã dẫn đến tình trạng cố gắng sử dụng hết các khoản dự trù được duyệt nhưng không quan t m đến hiệu quả của chi tiêu C c lãnh đạo đơn vị sử dụng ng n s ch có khuynh hướng quan t m đến việc làm sao để chi hết số tiền được cấp hơn là làm sao để quản lý tốt các hạng mục chi tiêu hay làm sao để chi tiêu một cách hiệu quả nhất với nguồn ngân sách hạn hẹp (OECD, 2002). Tóm lại, quản lý và lập ngân sách tập trung vào đầu vào được định hướng hướng tới việc có bao nhiêu nguồn lực, nh n viên, cơ sở vật chất cho một chương trình. Số tiền chi tiêu cho một chương trình thường là thước đo hiệu suất chính khi quản lý.
Thông tin quản lý nội bộ của một hệ thống đầu vào không cho thấy nguồn lực thực sự đã mua hoặc đã đạt được và thường là trọng t m đầu vào đi kèm với quy trình - tức là các tiêu chuẩn và quy tắc về cách thức đầu vào phải được sắp xếp, làm thế nào nên được thực hiện. Quản lý ngân sách theo chƣơng trình Lập ng n s ch theo chương trình được sử dụng đầu tiên ở Mỹ (UNCDF, 2001). Cách thức lập ngân sách này khắc phục được hạn chế của quản lý ngân sách theo hạng mục trong việc gắn kết giữa ngân sách với chính sách. Ngân sách theo chương trình là lập ngân sách dựa trên cơ sở hiệu quả hoạt động và c c chương trình đã được x c định theo các chính sách của chính phủ (Allen và Tommasi, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.