CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH HÀNG HÓA 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm hàng hóa; kinh doanh hàng hóa 1.1 Khái niệm hàng hóa Theo C.Mac, Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lê nin, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội: “Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán” Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc ở dạng phi vật thể (dịch vụ vô hình).
Hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cái trong xã hội tư bản. Hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong đó chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phân tích hàng hóa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở của tất cả phạm trù chính trị kinh tế học của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nếu không có sự phân tích này, sẽ không thể hiểu và phân tích được giá trị thặng dư là phạm trù cơ bản của chủ nghĩa tư bản và những phạm trù khác như lợi nhuận, lợi tức, địa tô… 1.Khái niệm kinh doanh hàng hóa Khái niệm về kinh doanh: là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới, trên thực tế khái niệm kinh doanh có nhiều cách hiểu.
Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh được hiểu là các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa. Theo cách hiểu này thì kinh doanh đồng nhất với khái niệm về thương mại được nêu trong Bộ luật Thương mại Việt Nam ban hành năm 1997. Tuy nhiên, khái niệm “kinh doanh” chính thức được luật pháp Việt Nam sử dụng từ năm 1990 khi Quốc hộithông qua hai bộ luật quan trọng, đó 10 là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Đến năm 2014, khái niệm “kinh doanh” một lần nữa được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: Tại điều 16 khoản 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13,“Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo đó, kinh doanh bao hàm cả các hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa, các hoạt động sản xuất, gia công, đầu tư hay các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi. Cách hiểu này về kinh doanh khá tương đồng với khái niệm thương mại mới được nêu ra trong Luật Thương mại năm 2005. Tại khoản 1 điều 3 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11, “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục tiêu sinh lợi khác”, đây cũng là cách hiểu phổ biến về thương mại trên thế giới. Như vậy, hiện nay khái niệm kinh doanh được hiểu như là thương mại theo nghĩa rộng.
Kinh doanh là thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới, trên thực tế khái niệm kinh doanh có nhiều cách hiểu. Theo cách hiểu thông thường, kinh doanh được hiểu là các hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua, bán hàng hóa. Sự cần thiết của quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh hàng hóa Ở Việt Nam, từ Đại hội VI đến nay, Đảng ta luôn khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Trước hết, Nhà nước định hướng phát triển kinh tế - xã hội bằng đường lối phát triển kinh tế, dự báo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.
Nhà nước thiết lập trật tự cho nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh. 11 Thông qua các chính sách, công cụ kinh tế vĩ mô như: ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán trong nước và quốc tế, Nhà nước điều tiết và bảo đảm kinh tế tăng trưởng bền vững, ổn định. Kết cấu hạ tầng như hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế chủ yếu do Nhà nước đầu tư hoặc tạo cơ chế, chính sách thông thoáng để các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư, xây dựng. Thực tế chỉ ra rằng, bản thân thị trường không thể tự điều chỉnh trong mọi trường hợp, tự doanh nghiệp cũng không thể giải quyết được toàn bộ các vấn đề nảy sinh như môi trường kinh doanh, hợp đồng…Mặt khác tại Việt nam, Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung, vì vậy Quản lý Nhà nước (QLNN) góp phần đảm bảo sự ổn định phát triển của hoạt động kinh doanh hàng hóa.
Để giải quyết các mâu thuẫn, duy trì sự ổn định đồng thời thúc đẩy tăng trưởng trong hoạt động kinh doanh hàng hóa thì hoạt động QLNN là rất cần thiết. Bằng quyền lực, chính sách và sức mạnh kinh tế của mình, Nhà nước giải quyết những mâu thuẫn lợi ích kinh tế cũng như những tiêu cực cần loại bỏ trong hoạt động kinh doanh hàng hóa giữa các chủ thể. Đồng thời QLNN trong hoạt động kinh doanh hàng hóa cũng tạo ra sự thống nhất trong tổ chức và phối hợp hoạt động của các cơ quan, doanh nghiệp, cá thể kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Hoạt động kinh doanh hàng hóa với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý lại đang trong quá trình đổi mới, hình thành, phát triển và hoàn thiện, bởi vậy sự cần thiết trong việc đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt kinh doanh hàng hóa cho phù hợp với yêu cầu mới của cơ chế thị trường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề còn rất mới mẻ đối với Việt Nam.
Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh hàng hóa tại địa phương 1. Ban hành các văn bản cụ thể hóa và hướng dẫn thực thi các chính sách pháp luật của Nhà nước về hoạt động kinh doanh hàng hóa Liên quan đến QLNN về hoạt động kinh doanh hàng hóa, Việt Nam có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật doanh nghiệp, Luật thương mại, thông tư, nghị định, quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh, quản lý chất lượng, quản lý giá bán tương ứngvớitừng loại hàng hóa. Hệ thống luật pháp, quy định phải tạo mọi thuận lợi cho hoạt động quản lý và kinh doanh hàng hóa nhằm chống lại các hình thức kinh doanh bất hợp pháp và bảo vệ người tiêu dùng. Nhà nước vừa là người ban hành các chính sách, quy định vừa là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nhằm đưa chúng vào thực tiễn.
Bởi vậy hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cần thống nhất, minh bạch, rõ ràng và đồng bộ. Từng vùng và địa phương cụ thể, căn cứ vào các văn bản quản lý nhà nước (QLNN) cấp Trung ương cùng tình hình kinh doanh thực tế tại địa phương mình mà xây dựng và ban hành văn bản quy định quản lý phù hợp. Các văn bản quản lý do địa phương soạn thảo chủ yếu tập trung vào cụ thể hóa và hướng dẫn các nghị định, quyết định của Chính phủ, chỉ thị của Thủ tướng và các quyết định, thông tư của Bộ có liên quan, đồng thời hướng dẫn, tuyên truyền các văn bản của Trung ương, địa phương đến các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh hàng hóa nhằm giúp họ dễ dàng nắm bắt và thực hiện đúng các nội dung mà Nhà nước đề ra. Để điều tiết hoạt động kinh doanh hàng hóa trong khâu phân phối, Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến các vấn đề chủ yếu sau: - Chính sách quản lý chủ thế kinh doanh: Có thể nói hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa 13 quyết định đối với sức tăng trởng của nền kinh tế và sự tồn tại của xã hội.Chủ thể kinh doanh là tổ chức, cá nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh (hoặc giấy phép đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và thực hiện trên thực tế các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận.Chủ thể kinh doanh có các dấu hiệu sau: 1) Là chủ thể pháp lí được tổ chức dưới một hình thức nhất định với tư cách doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh cá thể; 2) Được cơ quan đăng kí kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc được cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư nước ngoài cấp giấy phép đầu tư; 3) Tiến hành một cách độc lập và thường xuyên các hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán hoặc dịch vụ trên thị trường để thu lợi nhuận.Các chủ thể kinh doanh ở Việt Nam bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ti, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác làm kinh doanh.
Tại khoản 1 điều 6 Luật Thương Mại số 36/2005/QH11năm 2005 quy định “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. - Lĩnh vực, ngành nghề gắn liền với điều kiện kinh doanh của từn loại mặt hàng cụ thể: Một số ngành nghề kinh doanh ở nước ta hiện nay được quy định nằm trong diện ngành nghề kinh doanh có điều kiện- là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng ví dụ như: kinh doanh xăng dầu, kinh doanh khí,…(Danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục 4 của Luật Đầu tư 2014 và quy định về Hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện được quy định tại điều 25 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 14 2005).