CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUAN VE QUAN LY HOAT DONG KIEM TRA- DANH GIA KET QUA HQC TAP CUA HQC SINH 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VAN DE Mọi hoạt động giáo dục đều bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và kết thúc bằng đánh giá. Đánh giá có liên quan chặt chẽ với kiểm tra, dựa vào kết quả của kiểm tra là để đánh giá. Do đó kiểm tra, đánh giá thường đi liền với nhau, kiểm tra là để đánh giá và đánh giá phải dựa vào kiểm tra, là mục đích của kiểm tra.
Cùng với sự ra đời của lí luận dạy học, lí luận kiểm tra, đánh giá được các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn về giáo dục rất quan tâm vì nó có chức năng quan trọng trong hoạt động giáo dục. Trên thế giới Hoạt động kiểm tra, đánh giá được hình thành khá sớm cùng với việc xuất hiện của xã hội loài người. Việc chọn người “phối ngẫu” trong các bộ lạc nguyên thuỷ có thể là loại kiểm tra, đánh giá sớm nhất. Người tù trưởng qua “kiểm tra” có thể chọn cho mình các phối ngẫu ưng ý.
Những kiểu thử như vậy, mà phương Tây gọi là test (trắc nghiệm) có thể xuất hiện sớm hơn phương Đông so với các dạng kiểm tra khác. Từ thế kỷ XVIII việc nghiên cứu lý thuyết phương pháp trắc nghỉ: khách quan đã được bắt đầu và đến đầu thế kỷ XIX đã được triển khai rộng rãi ở các nước kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ. Nhiều công trình nghiên cứu đo lường, đánh giá kết quả học tập đã được công bố: Erwin T. cdc téc giả này đi sâu vào phương pháp đo lường từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm.
Osterlind nghiên cứu về xây dựng câu trắc nghiệm. Về kỹ thuật xây dựng và sử dụng MCQ (Multiple Choice Questions: câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiễu lựa chọn) trong KTĐG và tự KTĐG. Các bài KTĐG của họ được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đã có nhiều công trình nghiên cứu quy trình xây dựng và lựa chọn cách xây dựng ngân hàng đề và sử dụng nó để đảm bảo hiệu quả cao cho việc đo lường và đánh giá tuỳ theo yêu cầu của từng môn học và từng mục đích đánh giá.
Vấn đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả các tác giả đều nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Từng bước xây dựng, hoàn thiện cơ sở lí thuyết, cơ sở thực tiễn và quy trình cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Ở Việt Nam Lịch sử khoa cử ở Việt Nam được hình thành khá sớm, các khoa thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ. năm 1070, vua Lý Thái Tông cho lập Văn Miếu.
Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1075 đời Lý Thái Tông. Trên đại thể, chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử để đạt học vị cao nhất phải trải qua ba kỳ thỉ: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Thi cử thời phong kiến Việt Nam có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắc khe, bắt công, nhưng cũng đào tạo tuyển chọn được hàng loạt trí thức tài giỏi góp phần quan trọng trong xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ năm 1920, chế độ thi cử ở Việt Nam đã được tây hóa.
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá tri thức HS của một số nước trên thế giới. Ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết của các tác giả tiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các kỷ yếu khoa học trong các cuộc hội thảo cấp quốc gia bàn về kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của HS. Năm 1973, GS Dương Thiệu Tống với tác phẩm “Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập”, đã đi sâu nghiên cứu những nguyên lí căn bản về đo lường và đưa ra nhận định KTĐG phải dựa trên mục tiêu dạy học. Ông chỉ ra những điểm khác biệt giữa phương pháp luận đề và phương pháp trắc nghiệm, cách sử dụng từng phương pháp phù hợp với mục tiêu đánh giá.
Chính từ những quan điểm đó, năm 2003 trong bài phỏng vấn “Giáo dục Việt Nam - Ngôi nhà can dé lai mong”, GS Dương Thiệu Tống cho rằng “Kết quá thi cử là những dữ liệu rất quý giá để ta nghiên cứu đánh giá khả năng của HS, theo từng vùng, từng loại người, đánh giá đề thi, đánh giá chương trình và phương pháp giảng dạy, tiên đoán việc học tập của học sinh trong tương lai” [32]. Qua đó, Ông đã đưa ra những nhận định quan trọng về việc KTĐG, cho chúng ta cái nhìn tổng quan về thực trạng KTĐG hiện nay dé có những thay đổi cho phù hợp. Sau đó, có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này như: Nguyễn Phụng Hoàng và Võ Ngọc Lan (1997): “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra và đánh giá thành quả học tập”; Nguyễn Trọng Phúc (2001) với đề tài “Trắc nghiệm khách quan và vấn đề đánh giá trong giảng dạy địa lí”; Lâm Quang Thiệp (2008) nghiên cứu đề tài “Đánh giá thành quả học tập ở trường đại học”; Nguyễn Bảo Hoàng Thanh (201 1): “Kiểm tra đánh giá trong giáo dục”. Những nghiên cứu trên giúp cho hoạt động KTĐG ngày càng có những hướng đi đúng đắn, những cái nhìn thống nhất, làm tiền đề để đổi mới hoạt động này tại các trường.
Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học” năm 2005 tại Huế và “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của. HS ở bậc trung học” năm 2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu đã đánh giá thực trạng hoạt động KTĐG hiện nay, những giải pháp cần thiết nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS phô thông qua KTĐG. Trong thời gian vừa qua, nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về vấn đề KTĐG. Tuy mỗi luận văn, có đề cập đến những khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung đều đưa ra các lí luận và các biện pháp cần thiết cho hoạt động KTĐG.
Tác giả Nguyễn Bân (2006), ĐHSP Huế nghiên cứu việc KTĐG thông qua các phương pháp trắc nghiệm khách quan, từ đó xây dựng các biện pháp quản lý việc áp dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào KTĐG. Các tác giả Nguyễn Thị Kim Bông (2006): Phạm Đại Cảnh (2011), DHSP Huế với mong muốn tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy tối đa hiệu quả của việc đổi mới KTĐG KQHT của HS. Nhu vay, KTDG là hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục KTDG là đề tài được rất nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu. Những đề tài được nghiên cứu đã đưa ra những lí luận chung về hoạt động KTĐG, định hướng cho sự đổi mới hoạt động KTĐG.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu hoặc ở tầm vĩ mô hoặc cục bộ ở từng địa phương cụ thể, chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động KTĐG KQHT môn toán của HS ở các trường THPT tỉnh Kon Tum. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Khái nigm quan ly Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý.
Đây là hoạt động để người lãnh đạo tập hợp sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Nói về điều này, C. từng viết: "Một người chơi vĩ cằm riêng rẽ thì tự điều khiển mình nhưng một giàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng" [10, tr.30] Hiện nay tồn tại khá nhiều những khái niệm, định nghĩa về QL khác nhau, song có thể khái quát : "Quản jÿ là một quá trình thực hiện các công 10 việc xây dựng kế hoạch hành động (bao gôm cả xác định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, qui định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc, điều phối nguôn lực tài chính và kỹ thuậi chỉ đạo, điều hành, kiểm soát và đánh giá kết quá, sửa chữa sai sót ( có) để đảm bảo hoàn thành mục tiêu của tổ chức đã dé ra” [15,tr35] b, Chức năng quản lý Chức năng QL là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể QL lên đối tượng QL. Quản lý có các chức năng cơ bản, chức năng cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Hiện nay, đa số các nhà khoa học và các nhà QL cho rằng QL có 4 chức năng cơ bản, đó là: Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý - Chức năng lập kế hoạch: Đây là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình QL. Từ trạng thái xuất phát của hệ thống, căn cứ vào mọi tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của hệ, vạch rõ mục tiêu, nội dung hoạt động và các biện pháp nhằm đưa hệ thống đến trạng thái mong muốn. - Chức năng tổ chức: Là giai đoạn tô chức thực hiện kế hoạch đã được. Tổ chức là sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, bộ phận nhằm đạt được mục tiêu của kế hoạch.
Nếu người QL biết cách tổ chức có hiệu quả, có khoa học thì sẽ phát huy được sức mạnh của tập thẻ. Lênin đã i khẳng định: “Liệu một trăm có mạnh hơn một ngàn hay không? Có chứ! Khi mà một trăm được tổ chức lại. Tổ chức sẽ nhân sức mạnh lên mười lần”. - Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là phương thức tác động của chủ thể QL, điều hành mọi việc nhằm.
đảm bảo cho hệ vận hành thuận lợi. Chỉ đạo là biến mục tiêu QL thành kết quả, biến kế hoạch thành hiện thực. - Chức năng kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ QL. Giai đoạn này làm nhiệm vụ là đánh giá, kiểm tra, tư vấn, uốn nắn, sửa chữa.
để thúc đẩy hệ thống đạt được những mục tiêu, dự kiến ban đầu và việc bỗ sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo. Quản lý giáo dục QLGD thuộc lĩnh vực QL xã hội. GD là một hệ thống của xã h ï với sứ mệnh là truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ trước.