Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp khoảng 40% GDP và tạo việc làm cho hơn 50% lực lượng lao động xã hội. Tại tỉnh Hải Dương, giai đoạn 2003 - 2007 ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của khối kinh tế tư nhân với hàng ngàn doanh nghiệp mới thành lập, đóng góp hàng ngàn tỷ đồng vào ngân sách địa phương. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1 năm 2007, các hàng rào bảo hộ thuế quan dần bị bãi bỏ, đặt các doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực công nghệ vượt trội.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là phần lớn DNNVV trên địa bàn tỉnh đang vận hành với trang thiết bị lạc hậu, năng suất lao động thấp và chi phí sản xuất cao. Nút thắt lớn nhất kìm hãm quá trình đổi mới công nghệ (ĐMCN) của các doanh nghiệp chính là khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính trung và dài hạn. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là khảo sát, đánh giá toàn diện hiện trạng công nghệ và thực trạng huy động vốn phục vụ ĐMCN của khối DNNVV tại tỉnh Hải Dương; từ đó xây dựng hệ thống giải pháp sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư hiện đại hóa công nghệ.

Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian gồm 12 huyện, thành phố thuộc tỉnh Hải Dương với mốc thời gian phân tích trọng tâm từ năm 2003 đến năm 2007. Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp địa phương xây dựng cơ chế đòn bẩy tài chính, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ đổi mới máy móc thiết bị hàng năm của khối DNNVV từ mức dưới 10% lên khoảng 20% - 25%, giảm tỷ lệ tiêu hao năng lượng từ 15% đến 20% và tạo lập năng lực cạnh tranh bền vững trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết Đổi mới sáng tạo của Joseph Schumpeter và quan điểm quản trị hiện đại của Peter Drucker, trong đó nhấn mạnh marketing và đổi mới công nghệ là hai chức năng cốt lõi quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trên thương trường. Đồng thời, đề tài vận dụng Lý thuyết Can thiệp công của kinh tế học phúc lợi, xác định Nhà nước giữ vai trò là chủ thể điều chỉnh các khuyết tật của thị trường vốn thông qua các đòn bẩy tài chính để định hướng đầu tư xã hội vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao.

Hệ thống khái niệm chính trong luận văn bao gồm:

  • Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Được định danh theo Nghị định số 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
  • Đổi mới công nghệ: Là quá trình chủ động thay thế một phần cốt lõi hoặc toàn bộ quy trình công nghệ, máy móc thiết bị đang vận hành bằng giải pháp kỹ thuật mới nhằm gia tăng năng suất, nâng cao chất lượng và tối ưu hóa chi phí sản xuất theo tinh thần Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 và Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006.
  • Công cụ tài chính hỗ trợ ĐMCN: Tập hợp các phương thức tác động bằng dòng vốn bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng thương mại, vốn tín dụng đầu tư phát triển ưu đãi, thuê mua tài chính và chính sách ưu đãi thuế.
  • Thuê mua tài chính: Hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua việc bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng máy móc, thiết bị cho bên thuê trong một thời hạn nhất định mà không đòi hỏi tài sản thế chấp ban đầu.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo thống kê của Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Cục Thuế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003 - 2007 với dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra thực địa. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 50 DNNVV hoạt động trong các ngành công nghiệp chủ lực (cơ khí chế tạo, chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ và dệt may). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng trên địa bàn 12 huyện, thành phố nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các loại hình sở hữu từ công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đến doanh nghiệp tư nhân.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh đối chiếu và phân tích định tính là nhằm làm sáng tỏ mối liên hệ thực chứng giữa mức độ tiếp cận các công cụ tài chính với tốc độ đổi mới máy móc của doanh nghiệp. Phương pháp phỏng vấn sâu lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản lý địa phương giúp nhận diện chính xác các rào cản vô hình trong quy trình giải ngân vốn, từ đó kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu một cách khách quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực tế tại 50 DNNVV trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2003 - 2007 đã làm rõ các phát hiện quan trọng sau:

  1. Trình độ thiết bị công nghệ ở mức trung bình và lạc hậu: Khoảng 68% máy móc, dây chuyền sản xuất của các DNNVV khảo sát thuộc thế hệ kỹ thuật chế tạo từ trước năm 2000. Tỷ lệ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 0,5% tổng doanh thu hàng năm, dẫn đến năng suất lao động thấp hơn khoảng 30% so với mức bình quân của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên cùng địa bàn.
  2. Kênh tín dụng thương mại bị nghẽn do rào cản tài sản bảo đảm: Mặc dù có tới 78% doanh nghiệp có nhu cầu cấp thiết về vốn trung và dài hạn để mua sắm thiết bị mới, chỉ có khoảng 24% doanh nghiệp tiếp cận thành công nguồn vốn vay trung hạn từ các ngân hàng thương mại. Nguyên nhân chủ yếu là do 75% doanh nghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 5 tỷ đồng và không đủ bất động sản hoặc nhà xưởng hợp pháp để thế chấp bảo đảm tiền vay.
  3. Thị trường thuê mua tài chính chưa được khai thác hiệu quả: Tỷ lệ doanh nghiệp biết đến và từng sử dụng dịch vụ thuê mua tài chính để đổi mới thiết bị đạt dưới 8%. Con số này quá thấp khi so sánh với các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, nơi giao dịch thuê mua tài chính chiếm từ 25% đến 30% tổng nguồn vốn tài trợ mua sắm máy móc của doanh nghiệp với quy mô thị trường toàn cầu đạt khoảng 350 tỷ USD.
  4. Hiệu ứng đòn bẩy từ Quỹ Khoa học và Công nghệ và ưu đãi thuế còn hạn chế: Chỉ khoảng 18% doanh nghiệp khảo sát được thụ hưởng chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp khi nhập khẩu dây chuyền công nghệ cao. Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh theo quy định tại Điều 40 Luật Khoa học và Công nghệ chưa vận hành nguồn vốn vay ưu đãi đến tay khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh một nghịch lý: nhu cầu hiện đại hóa máy móc để cạnh tranh hậu gia nhập WTO là rất lớn, nhưng kênh cung ứng tài chính lại bị tắc nghẽn ở khâu thẩm định tài sản bảo đảm của ngân hàng thương mại. Doanh nghiệp nhỏ rơi vào vòng luẩn quẩn: vốn mỏng nên không mua được công nghệ mới, công nghệ cũ dẫn tới sản phẩm chất lượng thấp, doanh thu suy giảm khiến năng lực tích lũy tài chính để tái đầu tư càng bị triệt tiêu.

Khi so sánh với các công bố khoa học tại các đô thị lớn trong cùng giai đoạn, kết quả tại Hải Dương cho thấy sự tương đồng về rào cản tiếp cận vốn ngân hàng, nhưng mức độ phổ cập của các kênh tài chính thay thế như thuê mua tài chính hay quỹ bảo lãnh tín dụng tại Hải Dương còn thấp hơn khoảng 15% so với Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu nguồn vốn tài trợ đổi mới công nghệ (trong đó vốn tự có chiếm 65%, vốn vay ngân hàng chiếm 22%, vốn chiếm dụng bạn hàng chiếm 10% và vốn thuê mua tài chính chỉ chiếm 3%), minh chứng rõ nét cho sự thiếu hụt của các đòn bẩy tài chính công tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để nút thắt vốn và thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ cho khối DNNVV tại tỉnh Hải Dương giai đoạn tiếp theo, hệ thống 4 nhóm giải pháp tài chính trọng tâm được đề xuất:

  1. Thành lập và vận hành Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương: Ủy ban nhân dân tỉnh cần bố trí trích lập ngân sách địa phương từ 30 tỷ đến 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2009 - 2012 để hình thành Quỹ KH&CN cấp tỉnh theo Điều 40 Luật KH&CN. Giao Sở KH&CN chủ trì thẩm định các dự án ĐMCN mũi nhọn, triển khai cơ chế cấp bù lãi suất từ 30% đến 40% so với lãi suất thương mại cho các khoản vay mua sắm thiết bị thuộc danh mục công nghệ khuyến khích.
  2. Thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng thông qua Quỹ Đầu tư phát triển địa phương: Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Hải Dương cần ban hành quy chế bảo lãnh tín dụng đầu tư công nghệ dựa trên tính khả thi của phương án kinh doanh và hợp đồng tiêu thụ sản phẩm thay vì thuần túy dựa vào bất động sản thế chấp. Mục tiêu giải ngân dư nợ bảo lãnh tín dụng đạt khoảng 100 tỷ đồng trong vòng 3 năm cho khoảng 60 - 80 lượt DNNVV.
  3. Mở rộng kênh kết nối dịch vụ thuê mua tài chính: Sở Công Thương và Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Hải Dương phối hợp với 3 đến 5 công ty cho thuê tài chính hàng đầu tổ chức các hội nghị xúc tiến, chuyển giao máy móc không cần thế chấp. Phấn đấu nâng tỷ trọng tài trợ thiết bị qua kênh thuê mua tài chính của tỉnh từ mức dưới 8% lên đạt 15% vào năm 2015.
  4. Tối ưu hóa chính sách ưu đãi thuế và trích lập quỹ R&D nội bộ: Cục Thuế tỉnh Hải Dương ban hành văn bản hướng dẫn rút ngắn 50% thời gian xét duyệt ưu đãi thuế nhập khẩu máy móc tạo tài sản cố định; đồng thời hướng dẫn 100% doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện quyền trích lập tối đa 10% thu nhập chịu thuế hàng năm để lập Quỹ phát triển KH&CN tại doanh nghiệp theo đúng quy định pháp luật, bắt đầu triển khai đồng bộ từ quý 1 năm 2009.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao và là tài liệu tham khảo quan trọng cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở KH&CN, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương): Sử dụng các số liệu khảo sát và khung đề xuất giải pháp để xây dựng đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ đổi mới công nghệ, tối ưu hóa nguồn phân bổ ngân sách khoa học kỹ thuật hàng năm.
  • Chủ doanh nghiệp và ban điều hành các DNNVV: Nhận diện đầy đủ các phương thức tài trợ vốn phi truyền thống như thuê mua tài chính, tiếp cận vốn quỹ ưu đãi và quy trình trích lập quỹ R&D nội bộ để giảm thiểu từ 20% đến 30% áp lực dòng tiền khi đầu tư nâng cấp dây chuyền.
  • Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và công ty cho thuê tài chính: Tham khảo các phân tích về nhu cầu đổi mới máy móc của 5 ngành công nghiệp chủ lực để thiết kế các gói sản phẩm tín dụng trung hạn chuyên biệt, mở rộng thị phần cho thuê tài chính an toàn tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Kinh tế phát triển: Khai thác nguồn tài liệu thực chứng về phương pháp khảo sát 50 doanh nghiệp tại 12 địa bàn hành chính, phục vụ các nghiên cứu mở rộng về cơ chế tài chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo cấp vùng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao các DNNVV tại Hải Dương gặp khó khăn lớn nhất về vốn khi muốn đổi mới công nghệ?
Khoảng 75% DNNVV trên địa bàn có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn theo yêu cầu của các ngân hàng thương mại. Do đó, doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn vốn tích lũy tự có hạn hẹp, không đủ khả năng tài trợ cho các dây chuyền thiết bị hiện đại vốn đòi hỏi hàng tỷ đồng đầu tư ban đầu.

Thuê mua tài chính mang lại lợi ích cụ thể nào cho doanh nghiệp nhỏ cần đổi mới máy móc?
Thuê mua tài chính cho phép doanh nghiệp đưa ngay thiết bị máy móc tiên tiến vào vận hành mà không cần thế chấp bất động sản có trước. Toàn bộ tiền thuê thiết bị được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp giải phóng áp lực vốn lưu động từ 30% đến 40% so với việc mua sắm trả thẳng.

Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ địa phương đóng vai trò gì theo Luật Khoa học và Công nghệ?
Theo quy định tại Điều 40 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, Quỹ phát triển KH&CN cấp tỉnh thực hiện chức năng tài trợ không hoàn lại và cho vay vốn với lãi suất ưu đãi cho các dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Đây là công cụ tài chính công trực tiếp hỗ trợ rủi ro cho các doanh nghiệp khi triển khai công nghệ mới.

Gia nhập WTO năm 2007 tạo ra sức ép công nghệ như thế nào đối với khối DNNVV?
Khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, hàng rào bảo hộ thuế quan bị dỡ bỏ theo lộ trình cam kết. Sản phẩm của DNNVV địa phương phải cạnh tranh trực tiếp với hàng nhập khẩu có chất lượng cao hơn và giá thành rẻ hơn từ 15% đến 20%, buộc doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tồn tại.

Doanh nghiệp nhỏ có thể tự trích lập quỹ phát triển KH&CN nội bộ như thế nào để tiết kiệm thuế?
Doanh nghiệp được quyền trích tối đa 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm để thành lập Quỹ phát triển KH&CN của chính mình. Khoản tiền này được dùng chi trả trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ mới, vừa tạo nguồn vốn chủ động vừa giảm số thuế phải nộp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về các công cụ tài chính và cơ chế tác động của Nhà nước nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ trong khối DNNVV.
  • Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng tại 50 doanh nghiệp trên địa bàn 12 huyện, thành phố của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2003 - 2007, chỉ rõ rào cản lớn nhất nằm ở khả năng tiếp cận vốn trung và dài hạn.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc đa dạng hóa nguồn tài trợ thông qua việc kết hợp linh hoạt 5 công cụ: vốn ngân sách, tín dụng thương mại, vốn vay quỹ ưu đãi, thuê mua tài chính và chính sách thuế.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, bao gồm thành lập Quỹ KH&CN tỉnh từ 30 tỷ đến 50 tỷ đồng, thiết lập cơ chế bảo lãnh tín dụng 100 tỷ đồng và mở rộng kênh thuê mua tài chính.
  • Mở ra định hướng nghiên cứu tiếp theo về việc xây dựng mô hình đánh giá định lượng hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án chuyển giao công nghệ sau khi nhận hỗ trợ tài chính.

Các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Hải Dương và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp thực hiện thí điểm mô hình liên kết tài chính - công nghệ ngay trong giai đoạn tới nhằm nâng cao sức cạnh tranh tổng thể cho kinh tế địa phương. Quý bạn đọc quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ để tiếp cận hệ thống bảng biểu và bộ câu hỏi khảo sát chi tiết.