CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRIỂN VỀ QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Vấn đề các công trình thủy lợi, các tổ chức cá nhân khai thác và quản lý sử dụng các công trình thủy lợi ở huyện là những đề tài mới được nhiều tác giả quan tâm. Tác giả Lê Văn Nghị (1998), nghiên cứu phân cấp quản lý công trình thủy nông ở thành phố Hải Phòng, Luận án Tiến sỹ, trường ĐHNN I, Hà Nội. đã tham gia nghiên cứu việc phân cấp quản lý công trình thủy lợi tại một thành phố lớn. Nguyễn Bá Tuyn (1998), Quản lý khai thác công trình thủy lợi, NXB nông nghiệp, Hà Nội.
đã tham gia nghiên cứu việc khai thác các công trình thuỷ lợi tác động đến sản xuất nông nghiệp. Công trình của PGS. TS Đỗ Hoài Nam, TS. Lê Cao Đoàn (2001): “Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam”, đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hạ tầng, phát triển hạ tầng ở nông thôn và đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển hạ tầng cơ sở ở tỉnh Thái Bình.
Công trình đã phân tích rõ vai trò và mối liên hệ giữa các loại hình hạ tầng nông thôn như hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng sản xuất (hệ thống kênh mương tưới tiêu, trạm bơm, hồ đập thủy lợi. Công trình đã phân tích đánh giá, đề xuất các giải pháp tầm vĩ mô tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Tuy vậy công trình không đi sâu phân tích thực trạng, các tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển thủy lợi, do đó chưa xây dựng, đề ra các 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải pháp cụ thể quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng nông thôn nói chung và cơ sở hạ tầng thủy lợi nói riêng hiệu quả, bền vững. Tác giả Trần Ngọc Bút (2002) có công trình: “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa thế kỷ cuối XX và một số định hướng đến năm 2011”, đã đi sâu nghiên cứu những chính sách, cơ chế, giải pháp cho phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có đề cập đến một số chính sách phát triển hạ tầng nông thôn trong đó có cong tác quản lý ha tầng thủy lơi.
Tuy vậy công trình chỉ xem xét cơ sở hạ tầng thủy lợi trong mối quan hệ tổng hòa của nông nghiệp, nông thôn chưa đề ra các giải pháp cụ thể để đẩy nhanh phát triển hệ thống thủy lợi ở nước ta nhất là trong giai đoạn tất cả hệ thống chính trị từ Trung ương, tới địa phương quyết liệt triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia nông thôn mới. Công trình nghiên cứu của PGS.TS Vũ Năng Dũng (2004): “Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”. Công trình “Dự án nông nghiệp có tưới của WB 5, WB 7” đã đề cập, phân tích sâu mối tương quan giữa hỗ trợ nhà nước về cơ chế chính sách, kinh phí với việc tham gia của cộng đồng trong quá trình huy động nhân lực, kinh phí, máy móc, vật liệu để triển khai xây dựng, khai thác, sử dụng và quản lý các công trình thủy lợi. Tuy vậy, công trình chưa đề cập tới các tồn tại, hạn chế trong việc phát triển hệ thống thủy lợi liên quan tới hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực thủy lợi, việc huy động các nguồn vốn trong đó từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác, quy hoạch hệ thống thủy lợi phù hợp, gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lê Cường (2009), làm tốt công tác thủy lợi để phát triển sản xuất, bảo vệ công trình. Tác giã đã có những nhận định chung cho công tác thủy lợi để thúc đẩy sản xuất Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 154/2008/NĐ – CP của Chính Phủ về việc miễn thủy lợi phí cho nông dân, Hà Nội ngày 1 tháng 1 năm 2008. Bộ kế hoạch và đầu tư (2009), Quy hoạch và phát triển kinh tế xã hội. Phần V quy hoạch phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng – quy hoạch phát triển thủy lợi, Hà nội ngày 14 tháng 10 năm 2009.
Cục thủy lợi, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Vấn đề thủy lợi phí, quá trình thực hiện ở nước ta, kinh nghiệm một số nước khác và kiến nghị giải pháp, Hà Nội. Tuy nhiên việc Quản lý và khai thác các công trình thủy lợi huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 200112013 theo chúng tôi chưa có tác giả nào nghiên cứu và viết bài.1 Một số khái niệm cơ bản Thủy lợi: Là những biện pháp khai thác tài nguyên nước mang lại lợi ích cho con người, cụ thể hơn là cho sản xuất nông nghiệp. Công trình thuỷ lợi: Là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nước; phòng, chống tác hại của nước và bảo vệ môi trường sinh thái như hồ đập, trạm bơm điện, kênh mương… Hệ thống thủy lợi: Bao gồm các công trình thủy lợi có liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong một khu nhất định. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý: Là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với điều kiện của quy luật nhằm đạt được mục đích và ý chí của người quản lý (VIM, 2008).
Quản lý công trình thuỷ lợi: là phạm trù rộng, có chủ thể quản lý và khác thể quản lý, chủ thể là con người, khác thể là các công trình, quản lý có sự phân cấp, quản lý cần có kinh phí để thực hiện, kinh phí để duy tu bão dưỡng các công trình, quản lý diễn ra tại moi thời điểm Khai thác các công trình thuỷ lợi là quá trình thực hiện theo mùa vụ, theo thời điểm nhất định, phục vụ sản xuất, dân sinh và phòng chống lụt bão, khai thác phải đảm bảo quy trình đóng mở, điều tiết, tưới tiêu nhất định, khai thác phải đảm bảo hiệu quả, có tác dụng sử dụng lâu dài, phục vụ tốt nhất. Theo Suranat, 1993, quản lý là một quá trình nhằm để đạt được các mục đích của một tổ chức thông qua việc thực hiện chức năng cơ bản là kế hoạch hóa, tổ chức, điều hành và kiểm tra đánh giá.2 Vai trò và đặc điểm của công trình thuỷ lợi 1.1 Vai trò của công trình thuỷ lợi Thủy lợi có vai trò đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó còn góp phần phát triển công nghiệp và các ngành nghề khác. Các công trình thủy lợi là công sản của cộng đồng gắn kết với các thành viên của cộng đồng lại vì mục tiêu sử dụng đầy đủ, có hiệu quả nguồn nước. Thủy lợi là tiền đề, biện pháp hàng đầu để nâng cao năng suất cây trồng và sử dụng các nguồn lực khác.
Hệ thống công trình thủy lợi nói chung, kênh tưới, trạm bơm, cống ngầm nói riêng là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng. Đối với sản xuất nông nghiệp hệ thống công trình thủy lợi vừa là phương tiện sản xuất, vừa là điều kiện phục vụ tạo tiền đề cho các biện pháp kỹ thuật liên hoàn khác phát huy hiệu quả. Trong 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất nông nghiệp, việc đảm bảo nước tưới là yếu tố vô cùng quan trọng để thâm canh tăng năng suất cây trồng. Công trình thủy lợi không chỉ gắn liền với các hoạt động sản xuất mà còn liên quan đến các hoạt động đời sống như giao thông, điều hòa khí hậu, môi trường sinh thái ở các vùng nông thôn.
Công trình thủy lợi góp phần làm cho nông thôn phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội. Các công trình thủy lợi còn có tác dụng ngăn nước, giữ nước, điều tiết dòng chảy theo ý đồ của con người và đã tạo nên những khả năng to lớn của con người trong việc khai thác và sử dụng, chế ngự, điều tiết tự nhiên cho phát triển kinh tế và đời sống. Ngoài ra các công trình thủy lợi còn có tác dụng trong việc bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái và mở ra những điều kiện phát triển một số ngành kinh tế mới như du lịch, nuôi trồng thủy sản, giao thông. Như vậy, có thể thấy vai trò thủy lợi là hết sức to lớn đối với sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành nghề khác mà con người khó có thể tính toán một cách cụ thể hiệu quả của các công trình thủy lợi mang lại.2 Đặc điểm của công trình thuỷ lợi Công trình thủy lợi nhằm cải tạo thiên nhiên, khai thác các mặt lợi và khắc phục các mặt hại để phục vụ cho nhu cầu của con người.
Các công trình thủy lợi phải thường xuyên đối mặt trực tiếp với sự tàn phá của thiên nhiên, trong đó có sự phá hoại thường xuyên và sự phá hoại bất thường. Công trình thủy lợi là kết quả tổng hợp và có mối quan hệ mật thiết hữu cơ về lao động của rất nhiều người trong nhiều lĩnh vực, bao gồm từ các công tác quy hoạch, nghiên cứu khoa học, khảo sát, thiết kế, chế tạo, thi công, đến quản lý khai thác. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chứa đựng rất nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật xây dựng khác nhau. Ngoài công tác quản lý và sử dụng, các công trình thủy lợi còn mang tính chất quần chúng.
Đơn vị quản lý phải dựa vào dân, vào chính quyền địa phương để làm tốt việc điều hành tưới, tiêu, thu thủy lợi phí, tu sửa bảo dưỡng công trình và bảo vệ công trình. Do đó, đơn vị quản lý khai thác các công trình thủy lợi không những phải làm tốt công tác chuyên môn mà còn phải làm tốt công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia khai thác và bảo vệ công trình trong hệ thống. Vốn đầu tư thường là rất lớn theo điều kiện cụ thể của từng vùng, để có công trình khép kín trên địa bàn mỗi ha được tưới thì bình quân phải đầu tư thấp nhất 30 – 50 triệu đồng, cao là 100 – 200 triệu đồng. Các công trình thủy lợi phục vụ đa mục tiêu, trong đó tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất, môi trường sinh thái.