Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT SÔNG 1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ KHAI THÁC CÁT SÔNG 1. Khái niệm về khai thác cát sông Theo Từ điển Tài nguyên môi trường, cát là: 1) Đất rời, gồm chủ yếu là các hạt có kích thước từ 2 mm đến 0,05 mm, có chỉ số dẻo nhỏ hơn 0,01. Phân biệt, cát sỏi - lượng chứa các hạt lớn hơn 2 mm chiếm 25%, cát to - các hạt lớn hơn 2 mm chiếm trên 50%, cát nhỏ - các hạt lớn hơn 0,25 mm chiếm trên 75% và cát bụi - các hạt lớn hơn 0,1 mm chiếm dưới 75%.
2) Trầm tích, tự nhiên của đất không kết dính, hoặc do kết quả phân rã của đất đá có cỡ hạt từ 0,14-5,0 mm. Cát được dùng làm cốt liệu trong vữa, bê tông và gạch silicat [12, tr. Có tài liệu lại cho rằng, cát là vật liệu dạng hạt, có nguồn gốc tự nhiên bao gồm các hạt đá và khoáng vật nhỏ và mịn. Khi được dùng như là một thuật ngữ trong lĩnh vực địa chất học, kích thước hạt cát theo đường kính trung bình nằm trong khoảng từ 0,0625 mm tới 2 mm (thang Wentworth sử dụng tại Hoa Kỳ) hay từ 0,05 mm tới 1 mm (thang Kachinskii sử dụng tại Nga và Việt Nam hiện nay) [68].
Cát là một dạng khoáng sản cụ thể, có trong lòng sông, bãi biển. Cát sông thông thường dùng để làm vật liệu xây dựng, san lấp mặt bằng. Dưới góc độ pháp luật, Luật khoáng sản năm 2010 có quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ” [43]. Như vậy, khoáng sản là khoáng vật, 8 khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng ngàn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng, trên mặt đất.
Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia. Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Theo “Đại điển Tiếng Việt”, khai thác được hiểu là: 1. Hoạt động để thu lấy những sản vật có sẵn trong tự nhiên: khai thác tài nguyên, khai thác lâm thổ sản; 2.
Tận dụng hết khả năng tiềm tàng, đang ẩn giấu: khai thác khả năng của đồng bằng sông Cửu Long; 3. Tra xét, dò hỏi để biết thêm điều bí mật: khai thác tù binh [64, tr. Hoạt động khai thác khoáng sản có từ khá lâu đời. Lúc đầu, hoạt động khai thác khoáng sản ở Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới chỉ là khai thác đá, sắt, đồng,… để làm công cụ phục vụ cho chăn nuôi, trồng trọt, luyện vũ khí để chống giặc ngoại xâm.
Nhưng phải đến thời Pháp thuộc, khai thác khoáng sản mới định hình như một nghề. Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, chúng đã cho thành lập Sở địa chất Đông Dương. Nơi đây tập trung nhiều nhà bác học địa chất nổi tiếng của nước Pháp và cả thế giới lúc bấy giờ. Rất nhiều mỏ khoáng sản của Việt Nam đã được người Pháp phát hiện ra.
Thực dân Pháp khai thác khoáng sản để làm nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu của chúng. Toàn quyền Đông Dương đã bán nhiều mỏ khoáng sản của ta cho các công ty khai khoáng của Pháp. Khi đất nước thống nhất, thời gian đầu chúng ta tập trung củng cố và khôi phục nền kinh tế sau khi kết thúc chiến tranh, chưa chú trọng đến hoạt động khai thác khoáng sản. Chỉ đến những năm gần đây, đất nước ta mới chú trọng đến hoạt động khoáng sản, mới nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản trong sự phát triển 9 kinh tế - xã hội.
Về phương diện kinh tế, khi nói đến vai trò của khoáng sản, ta không thể không kể đến tầm quan trọng của nó đối với các ngành công nghiệp. Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt. Tuy nhiên, công nghiệp chế biến của Việt Nam còn chưa phát triển, các loại khoáng sản khai thác được vẫn chủ yếu dùng để xuất khẩu thô. Tài nguyên khoáng sản đã có những đóng góp nhất định vào sự thịnh vượng của quốc gia và góp phần thực hiện các mục tiêu tổng thể về kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
Khi tiến hành các hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Trong đó đáng kể nhất là thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Về phương diện chính trị, tài nguyên khoáng sản giúp các quốc gia giữ ổn định về an ninh, trật tự. Công nghiệp khai khoáng đã tạo ra việc làm cho người lao động.
Hơn nữa, khoáng sản còn tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế. Tài nguyên khoáng sản góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một số trường hợp, tài nguyên khoáng sản còn làm tăng các ảnh hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác. Các quốc gia không có tài nguyên khoáng sản thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng như chính trị đối với các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này.
Tuy nhiên, việc khai thác khoáng sản cũng tác động không nhỏ đến môi trường, đến cuộc sống của con người. Từ những vấn đề trên có thể hiểu, khai thác cát sông là một trong những hoạt động khai thác khoáng sản nhằm thu lấy một lượng cát sông dùng làm vật liệu phục vụ trong xây dựng và vào các mục đích khác, góp phần phát 10 triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm về khai thác cát sông Thứ nhất, việc khai thác cát sông phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác. Cát sông là nguồn tài nguyên của quốc gia, được Nhà nước phân cấp quản lý, do vậy việc khai thác cát sông phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác.
Việc khai thác cát sông phải tuân thủ đúng trình tự, quy trình do Nhà nước quy định. Thứ hai, việc khai thác cát sông không đòi hỏi phải sử dụng các phương tiện, thiết bị hiện đại, có công nghệ cao. Cát sông nằm ở lòng sông, nên muốn sử dụng nó con người phải khai thác. Khai thác cát sông là hoạt động sử dụng các thiết bị, phương tiện như: tàu cuốc, sà lan cần cẩu, xáng guồng, xáng cạp,… lấy trực tiếp cát từ lòng sông lên phương tiện chuyên chở đi tiêu thụ, không qua giai đoạn chế biến.
Các phương tiện khai thác cát có thể nói thô sơ, không nhất thiết phải dùng các phương tiện hiện đại. Thứ ba, hoạt động khai thác cát sông không giống như những hoạt động khai thác khoáng sản khác, nó thường diễn ra nhanh, không kể về thời gian ngày hay đêm, chi phí thấp. Các mỏ cát sông được phân bố trên bề mặt địa hình, điều kiện khai thác lộ thiên và công nghệ không đòi hỏi phức tạp. Chỉ cần dùng phương tiện bơm hút cát trực tiếp từ đáy sông, nên hoạt động khai thác cát sông thường diễn ra nhanh, ít tốn kém về thời gian và chi phí, có thể khai thác bất kể ban ngày hay ban đêm.
Tùy theo công nghệ khai thác (công suất của phương tiện bơm hút cát) và tải trọng của phương tiện chuyên chở mà thời gian khai thác cát diễn ra khác nhau. Từ các đặc điểm về khai thác cát sông nói trên, nên việc khai thác cát tạo 11 khó khăn cho việc quản lý của cơ quan nhà nước. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ KHAI THÁC CÁT SÔNG 1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về khai thác cát sông 1.
Khái niệm quản lý nhà nước Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về khai thác cát sông liên quan đến nhiều khái niệm khác như: quản lý, quản lý nhà nước, quản lý nhà nước bằng pháp luật. Tuy nhiên, những khái niệm này đã được nhiều công trình khoa học nghiên cứu, để có tính hệ thống, trong luận văn khái quát và đồng tình với khái niệm: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện, cơ chế khác nhau nhằm đạt được mục đích quản lý đã đặt ra, phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội. Theo đó, quản lý nhà nước được hiểu là sự tác động có mục đích, chủ yếu bằng pháp luật, của các tổ chức, cá nhân mang quyền lực nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật và quản lý nhà nước bằng pháp luật về khai thác cát sông Trong quản lý, Nhà nước sử dụng các công cụ để điều chỉnh các quan hệ trong xã hội nhằm đạt đến một trật tự mà giai cấp thống trị mong muốn.
Tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, văn hóa, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ mà các chủ thể quản lý nhà nước có sự linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng, kết hợp các công cụ quản lý khác nhau, nhằm đạt hiệu quả tối ưu nhất. Điều này lý giải tại sao trong cùng một giai đoạn, có quốc gia dùng pháp luật làm công cụ cơ bản để quản lý nhà nước, có quốc gia lại chủ yếu dùng đạo đức, phong tục tập quán, tiền lệ, các 12 tín điều tôn giáo,. Hay trong chính một quốc gia, tùy từng thời kỳ có thể dùng pháp luật (pháp trị) hoặc đạo đức (đức trị), hoặc kết hợp cả hai công cụ đó để quản lý nhà nước. Trong rất nhiều công cụ nêu trên, pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong quản lý nhà nước, không có pháp luật, Nhà nước không thể quản lý được xã hội có hiệu quả.
Quy định của Nhà nước không chỉ thể hiện dưới hình thức của một chính sách hay thể hiện trong một bài phát biểu hoặc một bài báo,. mà nó thể hiện dưới hình thức pháp luật không phải do ngẫu nhiên mà có.