Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ thành lực lượng lao động kỹ thuật nòng cốt trong tương lai của đất nước, là quá trình liên tục với nhiều thành tố của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, nhằm hướng tới hình thành và phát triển nhân cách toàn diện và hài hoà của người lao động. Xét theo chiều dài lịch sử, khoảng thời gian vài trăm năm trở lại đây, các nhà khoa học xã hội kinh điển đã đặt nền móng cho nền giáo dục với sự kết hợp chặt chẽ của các dòng khoa học nhân văn, dòng khoa học tự nhiên và dòng GDHN hay thực chất là dòng giáo dục công nghệ.
Trung Quốc: Theo tài liệu báo cáo của một số chuyên gia về giáo dục lao động - kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (GDLĐ - KTTH - HN) đã sang thăm và làm việc tại Viện khoa học giáo dục TW, Bộ giáo dục Trung Quốc cho thấy hoạt động GDLĐ - KTTH - HN ở Trung Quốc có một số nét nổi bật như sau: - Giáo dục Trung Quốc rất chú trọng đến việc giáo dục lao động, kỹ thuật cho học sinh phổ thông. Ngay từ bậc tiểu học học sinh đã được học môn Lao động nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức, ký năng tối thiểu trong các lĩnh vực lao động tự phục vụ, lao dộng thủ công, nấu ăn, trồng cây, chăn nuôi vật nuôi nhỏ. Mục tiêu chủ yếu của môn Lao dộng là giáo dục ý thức, thái độ lao động cho học sinh và cung cấp cho học sinh một số kiến thức, kỹ năng cần thiết tối thiểu về lao động. Ở cấp THCS học sinh được học môn kỹ thuật lao động và có điều kiện thực hành ngay trong trường những nội dung học như gia công gỗ, kim loại, lắp ráp điện, thủ công… Đồng thời được tham gia lao động của địa phương và cơ sở sản xuất kinh doanh.
- Ở cấp THPT: Hiện nay một số nội dung kỹ thuật lao động đã trở thành bất buộc để giúp học sinh có được những kiến thức, kỹ năng kỹ thuật cần thiết và có thể tham gia ngay vào cuộc sống lao động sau khi tốt nghiệp THCS, THPT. Đặc biệt giáo dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề, trường trung học tổng hợp nhằm mục tiêu trang bị cho học sinh học vấn PTTH và những kỹ năng cần thiết để có thể học tiếp lên đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề đào tạo. Việc đưa giáo dục nghề nghiệp vào các trường phổ thông đã đáp ứng đòi hỏi của xã 5 download by : skknchat@gmail.com hội là đào tạo nguồn năng lực vừa có học vấn phổ thông hoàn chỉnh, vừa có kỹ năng nghề nghiệp cao. Đồng thời cũng góp phần đắc lực vào việc phân luồng hợp lý sau THCS và THPT.
- Nhiều trường phổ thông có bộ phận chuyên môn làm công tác tư vấn tâm lý và tư vấn nghề cho học sinh nhằm giúp các em khắc phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và có hướng chọn ngành, nghề cho phù hợp với năng lực của bản thân và thị trường lao động. - Chương trình học do Bộ giáo dục và các địa phương biên soạn theo hướng mềm hóa, hiện đại hóa. - Hoa Kì: Học sinh được học chương trình “Giáo dục nghề nghiệp” từ tiểu học. Chương trình này góp phần thực hiện mối liên hệ giữa nhà trường và sản xuất.
Đồng thời tạo điều kiện cho học sinh tham gia vào tất cả các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế. Tại Mỹ đã thành lập những hội đồng thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với xã hội, bao gồm đại diện của trường học, xí nghiệp, các thành phần kinh tế trong thị trường lao động.000 nghiệp đoàn đã tham gia công việc của hội đồng, thu hút hàng năm 600.000 học sinh vào thực hành sản xuất. Ví dụ ở bang Michigan, 1 hội đồng phục vụ 33 trường. Học sinh được thực hành lao động và học những nghề khác nhau như thợ hàn, thợ cơ khí tự động, thợ trang điểm… ở các xí nghiệp khác nhau.
- Ý: Giáo dục Ý có các bộ phận chính như học viện và hướng nghiệp. Giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cho trẻ từ 6 đến 14 tuổi là bắt buộc, trong đó có 5 năm tiểu học, 3 năm THCS. Kết thúc giáo dục bắt buộc, học sinh có nhiều lựa chọn giữa các loại trường PTTH khác nhau: Cổ điển, khoa học, kỹ thuật, cơ khí, kế toán, ngôn ngữ, nghệ thuật. Tất cả các trường PTTH ở Ý đều kéo dài 5 năm.
Kết thúc PTTH, học sinh có thể chọn bất cứ khoa đại học nào. - Ở một số nước khác Giáo dục lao động, kỹ thuật, hướng nghiệp được thực hiện qua việc giảng dạy các môn học, nhất là môn kỹ thuật hoặc môn Công nghệ. Ví dụ ở Malaysia, học sinh được học môn nghề và công nghệ với các nội dung: Những nguyên tắc cơ bản của kế toán, kinh tế cơ sở, thương nghiệp, khoa học công nghệ, khoa học gia đình, kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật điện và điện tử, công nghệ của kỹ thuật, vẽ kỹ thuật. Ở bang Brandenburg và một số bang khác của CHLB Đức, học sinh được học kỹ thuật theo các chủ đề sau: Lao động và sản xuất, xây dựng và nhà ở, cung cấp điện nước và xử lý phế thải; vận tải và giao thông; thông tin liên lạc.
Các chủ đề trên được 6 download by : skknchat@gmail.com xem xét trong chu kỳ: Kỹ thuật sản xuất - bán và mua sản phẩm kỹ thuật - sử dụng vận phẩm kỹ thuật - kiểm tra, bảo dưỡng và sủa chữa các sản phẩm kỹ thuật - tái sản xuất và xử lý phế thải. Ở Anh, học sinh được học chương trình thiết kế và môn công nghệ. Qua đó học sinh có cơ hội để phát triển khả năng thiết kế và công nghệ qua hệ thống bài tập thiết kế và làm ra sản phẩm, tập trung vào hoạt động thực hành và hoạt động khám phá, đánh giá những sản phẩm và ứng dụng của nó. Học sinh cũng có cơ hội để áp dụng những kiến thức, kỹ năng hiểu biết từ chương trình học tập.
Ở Hàn Quốc, học sinh nam được học môn kỹ nghệ, học sinh nữ học kinh tế gia đình bao gồm: Nông nghiệp, công nghệ thương mại, ngư nghiệp. Đây là môn học nằm trong chương trình tự chọn bắt buộc của lĩnh vực nhân văn và khoa học. Tại các nước khác như: Nhật, Đức, Pháp, Nga,… giáo dục lao động, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông cũng được đưa vào chương trình học bắt buộc. Ví dụ như ở Liên bang Nga, nội dung tin học và công nghệ thông tin được coi trọng học ở cả 3 cấp.
Riêng môn công nghệ thì được học sâu về thực hành công nghệ thông tin. Tóm lại: Vấn đề giáo dục kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông là một xu thuế chung và được nhiều nước quan tâm. Tùy yêu cầu, mục tiêu giáo dục phổ thông của từng nước mà mức độ nội dung, phương pháp giáo dục khác nhau. Tuy nhiên, việc đưa giáo dục kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp vào trường phổ thông đều nhằm đạt được mục tiêu là tạo cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống lao động như kỹ năng thông tin, lập kế hoạch, kỹ năng thiết kế, kỹ năng gia công, vận hành, tổ chức kinh doanh và giải quyết các tình huống trong cuộc sống.
Ở Việt Nam So với các nước trên thế giới, công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam là một phạm trù còn rất mới mẽ cả về lý thuyết và hoạt động thực tiễn. Những vấn đề GDHN ở trường phổ thông từ lâu đã được Đảng và Chính phủ rất quan tâm như: Quyết định 126/CP ra ngày 13 tháng 09 năm 1981 của chính phủ “Về công tác giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông tốt nghiệp khi ra trường”, Chỉ thị 33/2003/TCT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp. Trong thời đại hiện nay, khi mà sự phát triển của khoa học công nghệ ngày càng đem lại nhiều lợi ích lớn lao cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, việc trang bị cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ những kiến thức kỹ năng về kỹ 7 download by : skknchat@gmail.com thuật, công nghệ đã trở thành một yêu cầu không thể thiếu. Chính vì vậy, ở nhiều quốc gia, việc giáo dục kỹ thuật cho học sinh phổ thông các cấp được hết sức coi trọng.
Có thể thấy rõ vấn đề qua thực tiễn giáo dục kỹ thuật ở một số nước như sau [Hội thảo khoa học: Định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông các dân tộc thiểu số ở tây Nguyên, Trường ĐHSPHN, 3-2008. Các đại biểu đã đóng góp nhiều tham luận quan trọng, nhằm đánh giá và đưa ra những đề suất nhằm nâng cao quản lý hoạt động hướng nghiệp, tiêu biểu như: PGS. Nguyễn Kế Hào; PGS. Đặng Danh Ánh; PGS.
Nguyễn Văn Lê; TS. Nguyễn Thị Thu Hằng; PGS. Nguyễn Hữu Long… Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”; Chỉ thị số 10- CT/TW ngày 05/12/2011 của Bộ Chính trị về “phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn”, để nâng cao chất lượng giảng dạy hướng nghiệp trong trường phổ thông nhằm đẩy mạnh công tác phân luồng học sinh sau trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản Số: 3119/ BGDĐT-GDCN ngày 17 tháng 6 năm 2014 V/v hướng dẫn phối hợp để thực hiện giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông. Vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cũng đã được rất nhiều nhà quản lý và nhà khoa học quan tâm từ rất lâu: - Người có công đóng góp rất lớn trong sự nghiệp GDHN của Việt Nam đó là Phạm Tất Dong.