Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC HỌC SINH - SINH VIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài 1. Ở nước ngoài Ngay từ thời cổ đại, các vấn đề về quản lý nói chung và quản lý người học đã được nhiều triết gia và các nhà giáo dục quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu. Ở phương Đông, Khổng Tử (551 – 479 TCN) nhà triết học lớn, nhà giáo dục người Trung Quốc đã có nhiều tư tưởng tiến bộ đã được chọn lọc, kế thừa và phát huy cho đến hiện tại.
Quan điểm đào tạo của ông là đào tạo ra con người vừa có cả đức, cả tài, biết cống hiến cho xã hội, trở thành người quân tử. Ở phương Tây, nhà triết học Socrates (470 – 399 TCN) nêu lên quan điểm giáo dục là giúp con người tìm thấy, tự khẳng định bản thân mình. Để nâng cao chất lượng giáo dục thì cần có phương pháp phù hợp giúp thế hệ trẻ từng bước khẳng định, tự phát triển tri thức phù hợp với chân lý. Đối với Socrates, con người là đối tượng đáng được quan tâm hơn cả và bất cứ điều gì ảnh hưởng đến con người đều có tầm quan trọng nhất định.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, 12 óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,….Mác cùng với Ăngghen đã vạch ra những nguyên tắc cơ bản để giáo dục và đào tạo những con người phát triển cho xã hội tương lai.
Đó là sự kết hợp một cách hợp lý giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất, đó là việc kết hợp giữa lao động sản xuất và thực hiện giáo dục bách khoa (giáo dục kĩ thuật tổng hợp) trong việc tổ chức cho người học tham gia hoạt động thực tiễn, hoạt động xã hội. Những ý kiến của Mác và Ăngghen là phương hướng, là kim chỉ nam, có tính nguyên tắc cho lý luận giáo dục hiện đại và trong vấn đề quản lý người học. 8 Theo sau nền móng của Mác và Ăngghen, V. Lênin đã phân tích sâu sắc những phương thức giáo dục và đào tạo con người.
Nếu như Mác đã đề cập đến tính tất yếu của con người phát triển toàn diện trong xã hội, phác thảo những yêu cầu về phẩm chất và năng lực chủ yếu của con người thì Lênin đã chỉ rõ quá trình đào tạo con người lí tưởng. Lênin cho rằng giáo dục phổ cập – bắt buộc, giáo dục chuyên nghiệp – dạy nghề nhằm đào tạo thế hệ trẻ có đủ tri thức, năng lực tham gia công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng giáo dục của Lênin khá đồng nhất với mục tiêu của công tác HSSV đã và đang được thực hiện trong thời điểm hiện nay. Trên thế giới hiện nay, các vấn đề về quản lý công tác HSSV cũng được quan tâm và nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau.
Các nghiên cứu liên quan đến nội dung công tác HSSV ở giáo dục đại học về quản lý người học, công tác hành chính, công tác tuyển sinh, giáo dục toàn diện người học… đã được quan tâm và nghiên cứu. Một số sách và nghiên cứu cụ thể như tác giả Barr, Margaret JBarr, Margaret J với sách “The Handbook of Student Affairs Administration”, “Mid-Level Student Affairs Administrators: Management Skills and Professional Development Needs” của tác giả Charles J. Stanley Carpenter, sách “Student Services: A Handbook for the Profession” John H. Harper, “The Handbook of Student Affairs Administration” của George S.
McClellan, Jeremy Stringer,… Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung của công tác HSSV, chưa đề cập nhiều đến việc quản lý hiệu quả công tác HSSV trong nhà trường. Ngoài ra, nghiên cứu về quản lý công tác HSSV ở các nước chủ yếu tập trung nghiên cứu ở phạm vi giáo dục đại học, các nghiên cứu ở các trường và trung tâm dạy nghề vẫn chưa nhiều và chưa đi sâu tìm hiểu vấn đề. Do đó, các nghiên cứu sâu rộng về hoạt động quản lý công tác HSSV tập trung nghiên cứu ở hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở các nước là rất cần thiết. Ở trong nước Ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến các quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, người đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, đã có những chỉ dẫn hết sức quý báu cho quá trình giáo dục và đào tạo.
Bác đã có những tư tưởng giáo dục đúng đắn và quý báu: “giáo dục phải gắn với mục tiêu, 9 nhiệm vụ của đất nước trong từng thời kì; thực hiện nội dung giáo dục toàn diện; học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thực tiễn”. Những tư tưởng về giáo dục của chủ tịch Hồ Chí Minh là đường soi sáng cho việc phát triển nền giáo dục nói chung và đã dẫn đường cho hoạt động quản lý người học nói riêng. Các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo góp phần quan trọng vào việc hình thành cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận cho hoạt động quản lý công tác HSSV ở các cơ sở giáo dục. Vấn đề nghiên cứu về quản lý công tác HSSV đã được quan tâm và thực hiện từ sớm, từ khi nền giáo dục nước ta còn đang non kém.
Cụ thể Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về công tác HSSV trong các cơ sở giáo dục ban hành kèm theo các Quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27 tháng 07 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Quy chế này sau đó đã được sửa đổi và bổ sung theo Quyết định số 39/2000/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 08 năm 2000, được sử dụng chung rộng rãi trong các cơ sở giáo dục cả nước. Sau quá trình nghiên cứu thực tiễn và lý luận, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quyết định ban hành quy chế mới phù hợp hơn để quản lý công tác HSSV trong các trường học, cơ sở giáo dục. Quy chế công tác HSSV mới được ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ- BGDĐT ngày 13 tháng 07 năm 2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Do các cơ sở dạy nghề trong đó có trường TCN có những đặc trưng riêng cũng như chịu sự quản lý của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, do đó để quản lý công tác HSSV cần dựa vào quy chế công tác HSSV trong các cơ sở dạy nghề chính quy được ban hành. Quy chế công tác HSSV trong các cơ sở dạy nghề chính quy được ban hành kèm theo Quyết định số 26/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Đồng thời, Bộ cũng đã ban hành Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV hệ chính quy trong các cơ sở dạy nghề, kèm theo Quyết định số 54/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 19 tháng 05 năm 2008. Những bộ quy chế này thật sự là kim chỉ nam cho việc thực hiện công tác HSSV ở các trường, các cơ sở dạy nghề trong đó có các trường TCN.
Quy chế về công tác HSSV của Bộ ban hành được xem như hình mẫu cho các trường triển khai thực hiện, tuy nhiên tùy vào các điều kiện thực tế và thực trạng của mỗi nhà trường, mỗi cơ sở dạy nghề lại khác nhau vì vậy hoạt động quản lý 10 công tác HSSV ở mỗi trường có điểm khác biệt và cần được nghiên cứu phát triển. Các đề tài nghiên cứu về quản lý công tác HSSV ở Việt Nam không còn mới, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này với nhiều lĩnh vực và góc nhìn khác nhau. Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về quản lý công tác HSSV của các tác giả: Nguyễn Văn Tuấn về “Quản lý công tác học sinh tại trường Trung cấp Kinh tế - Kĩ thuật tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn hiện nay”; Nguyễn Trọng Tài với đề tài “Các biện pháp quản lý công tác sinh viên nước ngoài tại trường Đại học Thủy Lợi”; Nguyễn Minh Đức nghiên cứu “Đổi mới quản lý công tác sinh viên ở trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội trong chuyển đổi từ đào tạo niên chế sang tín chỉ”; Lê Mạnh Thắng về “Các giải pháp quản lý công tác học sinh tại trường Cao đẳng Kinh tế - Kĩ thuật Công nghiệp I”; Hoàng Thị Thu Hương với “Quản lý công tác học sinh tại trường trung cấp nghề Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”. Các đề tài trên đã nghiên cứu vấn đề quản lý công tác HSSV trên nhiều bình diện, nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên tập trung chủ yếu nghiên cứu tại một nhà trường hoặc cơ sở giáo dục cụ thể.
Trên thực tế mỗi trường, mỗi cơ sở giáo dục có những điều kiện thực tế và những vấn đề tồn tại khác nhau, do đó kết quả nghiên cứu đạt được vẫn chỉ nằm trong phạm vi giải quyết các vấn đề nhà trường, chưa đem lại được cái nhìn sâu rộng hơn về vấn đề quản lý công tác HSSV trong nhà trường, do đó việc có thêm các nghiên cứu về quản lý công tác HSSV ở những phương diện, góc độ mới là hoàn toàn cần thiết. Mặt khác, hiện nay các đề tài về nghiên cứu quản lý công tác HSSV chủ yếu được thực hiện nhiều ở các trường cao đẳng, đại học, chưa có sự tập trung nghiên cứu ở các trường TCN. Trong khi đó, vị trí trường TCN trong xã hội ngày nay ngày càng trở nên quan trọng hơn, việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác HSSV ở các trường TCN sẽ là nền tảng cho việc phát triển, nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục và đào tạo của các trường TCN hiện nay. Một số khái niệm có liên quan 1.
Trường trung cấp nghề 11 Theo Luật giáo dục nghề nghiệp (2014): “Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên”. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm: trung cấp giáo dục nghề nghiệp; trường trung cấp; trường cao đẳng. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tổ chức theo các loại hình sau đây: Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.