Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THPT huyện chư păh, tỉnh Gia Lai. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan tại các trường THPT huyện Chư păh tỉnh Gia Lai. Kết luận CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN LY GIAO DUC HQC SINH CHUA NGOAN TAI CAC TRUONG THPT 1.
TONG QUAN VE VAN DE NGHIEN CUU Giáo dục HSCN là một nhiệm vụ quan trong trong công tác quản lý giáo dục của nhà trường, là yếu tố cơ bản để phát triển và hoàn thiện nhân cách cho mỗi HS. Vì vậy nghiên cứu quản lý công tác giáo dục HSCN nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường là việc làm cần thiết cho các trường THPT. Ở lứa tuổi bậc THPT các em chưa có sự chín chắn về nhận thức, nhưng. cũng không thể gọi là trẻ con.
Các em rất dễ thích nghỉ nhưng cũng rất dễ bị kích động thay đổi bởi những yếu tố bên ngoài. Đây là giai đoạn các em phải tự xác định và lựa chọn cho mình hướng đi, có động cơ học tập đúng đắn quyết định đến tương lai các em sau này. Điều đáng nói chính là vai trò quản lý và định hướng giáo dục của Nhà trường giúp cho những HS có suy nghĩ lệch lạc biểu hiện qua các hành vi, thái độ sai trái trong học tập và đạo đức đẻ trở thành những học sinh ngoan. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận công tác quản lý giáo dục học sinh chưa ngoan, học sinh cá biệt: “Dự án ngăn chặn và giáo dục lại trẻ em chưa ngoan và trẻ em phạm pháp” tại TP.HCM, và “Muốn trẻ hư trở thành công dân tốt” (Vð Quang Phúc và tập thể các tác giả); “Quá trình giáo dục lại học sinh hư và học sinh phạm pháp” (Đặng Vũ Hoạt); “Thực trạng lưu ban, bỏ học của học sinh” (Trần Kiểm); “Khảo sát vấn đề giáo dục đạo đức cho HS ở trường phổ thông cấp 2-3 Sương Nguyệt nh, Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh thông qua sự kết hợp 3 lực lượng GD: Gia đình, Nhà trường, Xã hội"( Nguyễn Thị Diễm Thu); “7ìm hiểu kinh nghiệm GD học sinh kém đạo đức của một số giáo viên chủ nhiệm ở trường PTTH Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến tại thành phó Hồ Chí Minh” (Nguyễn Thị Trúc Ly); “Sự sa sút đạo đức của một bộ phận học sinh các trường phổ thông khu vực Bình Trị Thiên ” (Lê Phong); * Thực trạng và những biện pháp giáo dục lại học sinh lười học đầu bậc trung học cơ sở ” (Võ Thị Hồng Trước); “Phương pháp giáo dục HS cá biệt ở trường phổ thông dân lập Đình Tiên Hoàng Hà Nội ”( Nguyễn Tùng Lâm ).
Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đóng góp cho khoa học giáo dục một hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn sâu sắc về giáo dục bao gồm khái niệm HSCN (học sinh cá biệt), các dạng biểu hiện của HSCN, nguyên nhân dẫn đến tình trạng HSCN, đặc biệt là tổng kết kinh nghiệm, đề xuất những biện pháp phù hợp với những HS này. Tuy nhiên, các tác giả cũng nhìn nhận rằng HSCN có nhiều dạng biểu hiện khác nhau, mỗi dạng có những đặc trưng riêng cần được nghiên cứu chuyên biệt. Đồng thời các đề tài nghiên cứu cũng chỉ mới đề cập các vấn đề về hoạt động giáo dục HSCN tại một trường, một địa bàn cụ thể. Với sự tìm hiểu của mình tác giả nhận thấy chưa có đề tài nghiên cứu về lĩnh vực quản lý công tác giáo dục HSCN ở tỉnh Gia Lai nói chung.
Từ sự phân tích trên, tác giả thấy cần thiết phải nghiên cứu cụ thể biện pháp quản lý giáo dục HSCN tai các trường THPT huyện Chư päh nơi tác giả đang công tác. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Quản lý giáo dục QLGD được hiểu là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QLGD đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến. Như vậy, QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Tuy nhiên theo nghĩa rộng của GD với việc thực hiện triết lý giáo dục thường xuyên và triết lý học suốt đời thì ngoài tiêu điểm là GD thế hệ trẻ còn phải chăm lo giáo dục cho mọi người, cho nên: QLGD là quản lý hệ thống giáo dục bằng sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức và tuân thủ các quy luật khách quan của những chủ thể QLGD lên toàn bộ các mắc. xích của hệ thống giáo dục nhằm đưa hoạt động giáo dục của cả hệ thống đạt tới mục tiêu giáo dục (xây dựng và hoàn thiện nhân cách người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH trong từng giai đoạn cụ thê). Nếu tiếp cận GD trên cả hai phương diện (nghĩa rộng và nghĩa hẹp) thì thấy QLGD phải hiểu theo các cấp độ khác nhau (vĩ mô và vi mô). Đối với cấp độ vĩ mô: QLGD được là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QLGD đến các khách thể QLGD nhằm huy động nguồn lực, thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phói, điều chỉnh, giám sát,.một cách có hiệu.
quả các nguồn lực giáo dục( nhân lực vật lực, tài lực) nhằm đạt tới mục tiêu phát triển của cả hệ thống giáo dục để đáp ứng với yêu cầu phát triển KTXH trong một môi trường luôn luôn biến dồi. Đối với cấp độ vi mô: QLGD được nhìn nhận đối với các cơ sở giáo dục (trường học) và được thực hiện bởi công tác quản lý của các cơ sở đó gọi chung là quản lý nhà trường. QLGD vi mô được hiểu là hệ thống những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của công tác quản lý giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường, mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ và góp phần đưa hệ thống, giáo dục đến mục tiêu dự kiến. Quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động giáo dục của nhà giáo, hoạt động học tập và rèn luyện của người học, các nguồn lực đáp ứng hoạt động giáo dục của nhà trường.
Quản lý nhà trường bao gồm quản lý nhân sự, quản lý hoạt động dạy và học, quản lý tài chính, cơ sở vật chất, thiêt bị Mục tiêu, nhiệm vụ: Bảo đảm kế hoạch phát triển giáo dục: Tuyển chọn học sinh vào lớp đầu cấp đúng theo số lượng và chất lượng của Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định, duy trì số lượng học sinh đang học và hạn chế đến mức thấp nhất học sinh lưu ban, bỏ học. Bảo đảm chất lượng và hiệu quả giảng dạy, giáo dục: tiến hành các hoạt động giáo dục theo đúng chương trình và bảo đảm yêu cầu đối với môn học và các hoạt động giáo dục. Xây dựng đội ngũ giáo viên của trường có đủ pham chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bảo giảng dạy giáo dục học sinh đạt chất lượng cao. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ Giáo dục - Đảo tạo của nhà trường.
Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ thiết thực cho giảng dạy và giáo dục. Thường xuyên cải tiến công tác quản lý, lãnh đạo trường học theo tỉnh thần dân chủ hóa nhà trường, tạo hoạt động đồng bộ, có trọng điểm, có hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục. 10 Nội dung của quản lý nhà trường: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục; Ban hành và tô chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động. của cơ sở giáo dục khác; Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất ban, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục; Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục; Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục; Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực đề phát triển sự nghiệp giáo dục; Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục; Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục; Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục.
Học sinh chưa ngoan Thuật ngữ “học sinh chưa ngoan” để chỉ những học sinh có những nét cá tính riêng có suy nghĩ và hành động chưa phù hợp với yêu cầu học tập tại trường học. Trong phạm vi nhà trường những học sinh này thường được gọi những tên khác nhau, tùy theo mức độ, quan điểm nhìn nhận của các nhà giáo dục, cơ sở giáo dục. Có nơi gọi những HS này là học sinh chậm tiến, có nơi gọi là học sinh “khó giáo dục”, thậm chí có nơi gọi là học sinh “cá biệt”. Tuy cách gọi khác nhau nhưng nội dung và tính chất của các biểu hiện loại học sinh này thường giống nhau.
Có lúc, có nơi người ta gọi thẳng là “học sinh hư” và xếp vào loại phải giáo dục lại, nghĩa là phải được giáo dục theo yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính đặc thù.