CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI NÔNG SẢN 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản 1. Một số khái niệm liên quan a) Khái niệm về nông sản Nông sản là một trong những hàng hóa thiết yếu, có vai trò quan trọng đối với sản xuất và tiêu dùng của người dân ở mỗi quốc gia. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nông sản, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng khái niệm về nông sản theo quy định tại Khoản 7, Điều 3, Nghị định số 57/2018/NĐ- CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.
Theo đó, khái niệm nông sản được quy định cụ thể như sau: “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp” (Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, 2018). b) Khái niệm xúc tiến thương mại Hoạt động xúc tiến thương mại có thể do các thương nhân cung cấp sản phẩm dịch vụ tự tiến hành để quảng bá, giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ của mình và cũng có thể được tiến hành bởi các thương nhân chuyên kinh doanh dịch vụ xúc tiến thương mại. Ngoài ra xúc tiến thương mại còn có thể là hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức phi chính phủ. Xúc tiến thương mại là hoạt động bổ trợ, được thực hiện không phải để trực tiếp tiêu thụ hàng hoá dịch vụ mà góp phần làm cho hành vi mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại diễn ra thuận lợi hơn.
Xúc tiến thương mại là hành vi hướng tới sự tiêu dùng của xã hội. Theo Khoản 10, Điều 3, Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm về xúc tiến thương mại như sau: “Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, 6 triển lãm thương mại” (Luật Thương mại, 2005). Xúc tiến thương mại nhằm mục đích trực tiếp là tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và cơ hội đầu tư. c) Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa (Đỗ Thị Hải Hà, 2010).
Bản chất của quản lý nhà nước là quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước được ghi nhận, củng cố bằng pháp luật và được thực hiện bởi bộ máy nhà nước với cơ sở vật chất - tài chính to lớn, bằng phương pháp thuyết phục và cưỡng chế. d) Khái niệm quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản Từ khái niệm về nông sản, xúc tiến thương mại và quản lý nhà nước đã phân tích ở trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản là quá trình tác động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến hoạt động xúc tiến thương mại đối với nông sản thông qua hệ thống chính sách pháp luật với mục tiêu hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong điều kiện hội nhập hiện nay. Nhà nước sử dụng quyền lực được nhân dân giao cho để trực tiếp điều hành, tác động lên các chủ thể quản lý mà ở đây cụ thể là các đối tượng sản xuất, kinh doanh mặt hàng nông sản.
Quá trình tác động này thông qua các công cụ chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch và các quy định khác của pháp luật về hoạt động xúc tiến đầu tư nói chung, hoạt động xúc tiến đầu tư đối với mặt hàng nông sản nói riêng. Quyền lực nhà nước được bảo đảm bằng khả năng áp dụng, cưỡng chế thông qua chủ yếu ở các văn bản cụ thể cá biệt. Bên cạnh đó, trong hoạt động quản lý của mình, nhà nước còn là chủ thể chấp hành, thực hiện trên thực tế các luật và các văn bản dưới luật đã được ban hành. Vai trò quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế nói chung, xúc tiến thương mại cũng ngày càng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Chất lượng các hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng được chú trọng và nâng cao hơn cùng với sự đa dạng của các sản phẩm hàng hoá và yêu cầu ngày càng cao của con người. Ngày nay, các hoạt động xúc tiến thương mại được tiến hành ở hầu hết các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong mọi lĩnh vực đến các hoạt động xúc tiến thương mại của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến thương mại. Trong thời gian vừa qua, các hoạt động xúc tiến thương mại cũng gặp không ít những khó khăn và thử thách, do đó không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, hạn chế cần được bổ sung, khắc phục. Do đó, tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, về hoạt động xúc tiến thương mại đối với nông sản nói riêng là vô cùng quan trọng và cấp bách.
Hoạt động quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản có các vai trò sau đây: - Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản có hiệu quả là công cụ hữu hiệu để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng nông sản duy trì và phát triển thị trường, giúp doanh nghiệp tiếp cận được các thị trường tiềm năng, khai thác tốt cơ hội thị trường; cung cấp cho khách hàng những thông tin nổi bật của hàng hóa nhằm kích thích nhu cầu của khách hàng, tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ. - Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh mặt hàng nông sản, đặc biệt trong điều kiện hội nhập hiện nay. Bởi xúc tiến thương mại trong việc tiêu thụ nông sản thực chất là việc giúp người sản xuất bán hàng đúng thời điểm, đúng đối tượng và đúng giá cả tại các thị trường có lợi thế. Nếu không bán đúng thời điểm hoặc bán không đúng đối tượng sẽ đều bị mất giá.
- Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết 8 định số 899/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. Khi đề án được triển khai thực hiện, các Bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực triển khai thực hiện theo các nội dung và giải pháp của Đề án và đạt được những kết quả bước đầu, góp phần quan trọng duy trì, phát triển sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng của toàn ngành. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Đề án còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Một trong những hạn chế đó là chất lượng một số loại nông sản thấp, khả năng cạnh tranh thấp, thị trường tiêu thụ còn hẹp, nhiều sản phẩm nông sản có chất lượng nhưng chưa được nhiều người tiêu dùng biết đến.
Trước hạn chế đó, Chính phủ đã yêu cầu xây dựng chương trình đẩy mạnh nghiên cứu, thông tin thị trường, đặc biệt là thông tin về các cam kết thương mại hàng nông, lâm, thủy sản song phương và đa phương mà Việt Nam đã tham gia, những cơ hội và thách thức để doanh nghiệp và người dân biết. Nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời phát triển thị trường và bảo vệ hợp lý sản xuất trong nước; quan tâm phát triển thương hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại, tháo gỡ các rào cản nhằm đẩy mạnh tiêu thụ nông sản. Do đó, việc thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao nhận thức của người dân để người nông dân bỏ hình thức tự sản tự tiêu, sản xuất hàng hóa có chất lượng để tham gia tiêu thụ trên thị trường. Nguyên tắc quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản - Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản phải phù hợp với các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, bảo đảm quyền tự chủ, tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể; bám sát quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh nhằm phát huy tiềm năng và lợi thế so sánh của tỉnh trong việc đảm bảo phát triển thương mại nhanh, bền vững; đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ, phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế, xã hội và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của tỉnh.
9 - Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản phải đáp ứng được mục tiêu phát triển thương mại nông thôn ngày càng vững mạnh. Bên cạnh đó phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu với phát triển thị trường trong tỉnh; nâng cao vai trò cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và quản lý. - Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản phải gắn kết với đầu tư sản xuất theo lộ trình cam kết, đồng thời chủ động đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của thị trường và người tiêu dùng trong cả nước. Đồng thời phải gắn liền với phát triển du lịch và dịch vụ, đưa sự đóng góp của ngành chế biến nông sản trở thành một phần quan trọng trong việc xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
- Quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại đối với nông sản phải gắn kết với phát triển đa dạng về loại hình tổ chức và phương thức hoạt động.