CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tự học là vấn đề then chốt dẫn tới thành công trong bất cứ loại hình đào tạo nào từ trước đến nay. ột trong những đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội học tập là tư tưởng tự học tập suốt đời. Vì “Việc học không bao giờ là muộn” (Ngạn ngữ) hay “Bác học không có nghĩa là ngừng học” (Đác-uyn).
Quan niệm tự học và học tập suốt đời trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa vào thế kỷ XXI - thế kỷ của nền kinh tế tri thức. Xung quanh vấn đề tự học, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, gắn với những giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội và giáo dục. Dưới đây, chúng tôi tổng hợp các nghiên cứu tiêu biểu nhất của các học giả nước ngoài và trong nước về vấn đề tự học. Đây có thể coi là những tư liệu tham khảo hữu ích để chúng tôi vận dụng vào trong luận văn.
Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 Tr.CN) - nhà giáo dục kiệt xuất thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình đã luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Ông đã từng dạy học trò: “không giận vì không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày cho, vật có 4 góc, bảo cho biết 1 góc mà không suy ra được 3 góc kia thì không dạy nữa”. Đến thời cận đại, J. Đến thế kỷ XVIII-XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như: J.Đ Usinxky (1824-1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định: Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức [13, tr.
Rubakin [29], Smith Hecbơt [16] đã nhấn mạnh việc quan tâm giáo dục động cơ học tập đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong học tập. Kết quả nghiên cứu của P.Exipov đã chỉ ra rằng: “Các kỹ năng cơ bản của tự học là vấn đề hết sức quan trọng đảm bảo cho người học đạt kết quả cao trong học tập” [13]. Machiuskin [22] đã chỉ rõ trách nhiệm của giáo viên trong việc bồi dưỡng, hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên thông qua việc giao bài tập nhận thức cho sinh viên trong thời gian tự học. Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nổi lên cuộc cách mạng tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận “lấy người học làm trung tâm” để làm sao phát huy hết năng lực nội sinh của người học, đại diện cho tư tưởng này là J.
Deway, ông cho rằng: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” [36]. Học chế tín chỉ được khai sinh năm 1872, tại Viện Đại học Harvard ( ỹ) dưới sự điều hành của Charles Elios, xuất phát từ yêu cầu là quá trình đào tạo được tổ chức sao cho người học lựa chọn được cách học phù hợp nhất với khả năng, điều kiện của mình và cơ sở đào tạo phải thích ứng dễ dàng trước những biến động nhanh chóng, đa dạng của đời sống xã hội. Với ý nghĩa đó, đào tạo theo học chế tín chỉ phát triển nhanh và lan rộng ra toàn nước ỹ. Từ đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉ phát triển ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như: Nhật Bản, Philippines, Indonesia, alaysia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda… Trước sự lớn mạnh đó, 29 bộ trưởng phụ trách giáo dục đại học ở các nước liên minh Châu Âu ký “Tuyên ngôn Boglona” với mục đích hình thành “Không gian giáo dục đại học Châu Âu” 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (European Higher Education Area) nhằm triển khai học chế tín chỉ trong toàn bộ hệ thống giáo dục đại học.
Như vậy, có thể thấy rất rõ, ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển (nhất là giáo dục đại học) luôn đặc biệt quan tâm tới vấn đề tự học. Bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ chính là tự học. Đây vừa là điểm xuất phát, vừa là đích đến của chu trình đào tạo. Từ đây đào tạo theo học chế tín chỉ đã thực sự trở thành ưu tiên hàng đầu trong lựa chọn mô hình đào tạo của các quốc gia trên thế giới.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước Hoạt động tự học có từ rất lâu, tuy nhiên chỉ thực sự được chú ý và quan tâm dưới nền giáo dục XHCN. Chủ tịch Hồ Chí inh đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho đươc do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [24]. Người còn chỉ rõ: “Về việc học phải lấy tự học làm cốt”. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí inh được Đảng, Nhà nước vận dụng và đề ra trong các nghị quyết Đảng.
Tại hội nghị lần thứ II BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học … nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học” [9]. Trước năm 1975, học chế tín chỉ được triển khai ở Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức. Sau năm 1975, tư tưởng về học phần xuất hiện năm 1987, Quy chế đào tạo theo học phần tạm thời ra đời năm 1988 và hoàn chỉnh vào năm 1990 với khái niệm HỌC PHẦN và ĐƠN VỊ HỌC TRÌNH, đào tạo theo 2 khối kiến thức và 3 học phần, điểm chung bình chung. Học chế học phần được xây dựng với mục đích tạo điều kiện cho người học tích lũy dần kiến thức theo các mô-đun.
Như vậy, học chế học phần có điểm giống nhau cơ bản với học chế tín chỉ, nhưng nó chưa hoàn toàn là học chế tín chỉ mà thực chất là sự kết hợp giữa niên chế và tín chỉ. Trường đại học tiên phong áp dụng học chế học phần triệt để - học chế tín chỉ là Trường Đại học Bách 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa TP. Hồ Chí inh, năm học 1994-1995. Sau đó, các đại học khác như: Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Khoa học – Tự nhiên TP.
Hồ Chí inh, Đại học Thủy sản Nha Trang, Đại học Thương mại, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Dân lập Phương Đông,… cũng đã triển khai học chế tín chỉ. Trong “Chương trình hành động của Chính phủ” thực hiện Nghị quyết số 37/2004/QH11 khóa IX, kỳ họp thứ sáu của Quốc hội đã chỉ rõ: “ ở rộng, áp dụng học chế tín chỉ trong đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,…” [32]. Triết lý cơ bản của hệ thống tín chỉ là “Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo”. Nói cách khác, đào tạo theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo hướng về người học, tất cả vì người học.
Chuyển sang phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ tạo ra sự thay đổi lớn về phương cách, thói quen dạy – học của người dạy lẫn người học. Đối với hình thức đào tạo này thì khối lượng giờ giảng trên lớp sẽ giảm đi, mà sẽ tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Vì vậy, khi áp dụng theo học chế tín chỉ, việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan trọng, mang tính quyết định kết quả chất lượng đào tạo. Có thể thấy, đã có rất nhiều tác giả, có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học như Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Thị ỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn,… Gần đây, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các giảng viên trường Đại học Giáo dục (ĐHQG Hà Nội), Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Quản lý giáo dục.
nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã nghiên cứu về hoạt động tự học và đều khẳng định tự học không phải là vấn đề mới nhưng nghiên cứu về hoạt động tự học trong đào tạo theo học chế tín chỉ thì vẫn còn ít. Vì vậy, trong luận văn này tác giả tập trung vào việc phân tích rõ thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên ở Trường Đại học Hùng Vương theo học chế tín chỉ, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của sinh viên, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm cơ bản 1.
Tự học và tự học theo học chế tín chỉ 1. Khái niệm tự học Có nhiều công trình nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả tùy theo hướng tiếp cận của mình đã có những ý kiến, cách luận giải khác nhau, có thể kể đến một số quan điểm sau đây: N.A Rubakin cho rằng: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể” [29]. Theo Lê Khánh Bằng: “Tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định” [3, tr. Theo Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội” [12].
Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình. Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [33, tr.