CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS 1. Khái quát các nghiên cứu liên quan đến đề tài Bước sang thế kỷ XXI, xã hội loài người đã và đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Chất lượng thực sự đã và đang trở thành nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển của các quốc gia nói chung và của từng tổ chức nói riêng. Đối với ngành giáo dục của nước ta, đổi mới quản lý giáo dục nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đã và đang là một nhiệm vụ mang tính chiến lược trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hội hoá.
Xuất phát từ KĐCLGD đại học ở Hoa Kỳ, KĐCLGD đã và đang trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các nền giáo dục hiện đại. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đầu tư cho giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, đặc biệt hoạt động KĐCLGD đòi hỏi việc thực hiện phải nghiêm túc và theo một quy trình khoa học. Ở Hoa Kỳ: hệ thống KĐCL GDĐH Hoa Kỳ được hình thành và hoạt động từ gần một thế kỷ nay và ngày càng được nhiều quốc gia trên thế giới tham khảo khi xây dựng hệ thống kiểm định cho riêng mình. Một số đặc trưng cơ bản của hệ thống KĐCL ở Hoa Kỳ [11, tr.
414]: Kiểm định chất lượng ở Hoa Kỳ là một hoạt động tư nhân, phi chính phủ. Phần lớn KĐCL do các Hiệp hội KĐCL tiến hành. Chính phủ liên bang và chính quyền tiểu bang đều không đánh giá các trường ĐH mà đương nhiên công nhận kết quả kiểm định do các Hiệp hội đánh giá để quyết định trợ giúp tài chính cho trường ĐH. Các tiêu chuẩn đánh giá dùng cho kiểm định do chính các hiệp hội tự xây dựng.
KĐCL có thể được tiến hành ở phạm vi trường ĐH hoặc chương trình đào tạo (ngành đào tạo): 6 Hiệp hội trường ĐH, cao đẳng vùng cùng 5 Hiệp hội cấp quốc gia tiến hành KĐCL trường ĐH và 43 Hội KĐCL chuyên ngành thực hiện KĐCL chuyên ngành đào tạo. Ví dụ các hiệp hội: Hiệp hội trường ĐH và Cao đẳng miền Trung Hoa Kỳ (Middle States Association of Schools and Colleges); Hiệp hội các trường ĐH quản trị kinh doanh Hoa Kỳ (American Assembly of Collegiate School of Business); Hiệp hội kiểm định chuyên ngành đào tạo giáo viên quốc gia (National Council for Accreditation of Teacher Education); Hiệp hội chuyên ngành đào tạo Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association). KĐCLGD đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ. Trước đây, 6 KĐCLGD ít được các nước khác biết đến nhưng ngày nay càng được các quốc gia trên thế giới tham khảo khi xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng.
Cuối những năm 1940, ở Hoa Kỳ, một số Hiệp hội vùng bắt đầu có chức năng chính thức KĐCL các trường đại học và cao đẳng. Hiệp hội các trường đại học và cao đẳng miền Tây với các thành viên ở California và Hawaii bắt đầu hoạt động KĐCL vào năm 1948. Hiệp hội New England (NEACS) có chức năng kiểm định từ năm 1952. Hiện nay, KĐCLGD ngày càng trở nên phổ biến, bởi nó là một công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, duy trì các chuẩn mực chất lượng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học.
Ở Hà Lan: có hai hình thức đào tạo bậc ĐH là các trường ĐH Giáo dục Chuyên nghiệp (UPE - The University of Professional Education) và các trường ĐH Nghiên cứu (VSNU - Association of Universities in the Netherlands). Tất cả các trường ĐH giáo dục chuyên nghiệp liên kết thành Hiệp hội Giáo dục ĐH Chuyên nghiệp. Từ năm 1990, Hiệp hội thực hiện dự án "Đánh giá chất lượng" cho tất cả các trường ĐH thành viên và đưa ra mô hình mới cho "kiểm định công nhận chất lượng" gồm các tiêu chuẩn đánh giá như: Mục đích và mục tiêu đào tạo; Thiết kế chương trình; Chất lượng đội ngũ giảng viên; Cơ sở vật chất; Hệ thống đảm bảo CL bên trong; Kết quả đầu ra của sinh viên. Mục đích của việc đánh giá CL là nhằm có được cái nhìn tổng thể về CLGD và giúp cải tiến chất lượng, nâng cao sự hiểu biết của xã hội về các chương trình và bằng cấp của hệ thống Giáo dục ĐH Chuyên nghiệp.
Việc đánh giá do Hội đồng Giáo dục ĐH Chuyên nghiệp (HBO) thuộc hệ thống Giáo dục ĐH Chuyên nghiệp tiến hành và đánh giá CL cho từng chuyên ngành hoặc nhóm ngành đào tạo. Bộ Giáo dục Hà Lan có vai trò rất hạn chế trong hệ thống đánh giá CL từ bên ngoài, nhưng Bộ có thể ra quyết định chấm dứt các chương trình đào tạo nếu trong nhiều năm không đảm bảo CL. Hệ thống giáo dục ĐH nghiên cứu: Hà Lan có 14 trường ĐH nghiên cứu, chủ yếu đào tạo sinh viên trong lĩnh vực khoa học và ứng dụng khoa học. Các trường ĐH tại Hà Lan được giao quyền tự chủ nhưng đồng thời được yêu cầu nâng cao tính chịu trách nhiệm và đảm bảo CL.
Từ năm 1988, Hiệp hội các trường ĐH Hà Lan (VSNU) bắt đầu áp dụng hệ thống đánh giá CL từ bên ngoài vào các trường ĐH với chu kỳ đánh giá là 5 năm. Hiệp hội (VSNU) xây dựng kế hoạch cho việc TĐG và đánh giá từ bên ngoài và phải chịu trách nhiệm về: Tổ chức và chỉ định thành viên cho ban đánh giá; Hỗ trợ các khoa tiến hành đánh giá nội bộ nếu cần; 7 Tổ chức đào tạo cho bộ phận đánh giá từ bên ngoài; Tổ chức đào tạo cho thư ký của Hiệp hội; Tuân thủ nội dung trong kế hoạch đánh giá; Kiểm tra báo cáo tổng kết, đảm bảo các vấn đề về nội dung đã được đề cập; Công bố báo cáo. Tóm lại, hệ thống đánh giá CL Hà Lan đã triển khai hoạt động rất tốt và được các bên liên quan chấp nhận. Hệ thống đã có những tác động tích cực đối với các trường ĐH Hà Lan trong việc tăng cường ý thức về CL, giúp phát triển cơ chế đảm bảo CL bên trong và báo cáo cho công chúng về CL các trường ĐH.
Đến nay, nhiều tác giả nước ngoài đề cập tới khái niệm chất lượng, chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học, kiểm định chất lượng giáo dục. Trong đó có thể kể đến những tác phẩm như: “Quality Assurance in Teaching at James Cook University of North Queensland” của Annesley F. And Harte J (1994); “Quality Assurance Standard Requirements for Teaching and Learning units” của Đại học Chulalongkorn (2001); “Quality Assurance for University Teaching: Issues and approaches” của Ellis R. (1993); “Total quality management in education” của Mukhopadhyay M.
(2005); “Quality Management in Universities”của Warren Piper (1993); “Capacity Buiding in Higher Education and Quality Assurance in the Asia Pacific Region” của Len M. (2005),… KĐCL là hoạt động hoàn toàn tự nguyện, là không bắt buộc nhưng phần lớn các trường ĐH đều tự nguyện đăng ký với các tổ chức hoặc hiệp hội để được kiểm định nhằm nhận được sự hỗ trợ tài chính từ chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, và cũng muốn bằng cấp của mình được xã hội thừa nhận. Bởi vì, sinh viên học ở các trường chưa kiểm định sẽ gặp khó khăn trong việc học sau ĐH tại các trường đã kiểm định hoặc khó được thị trường lao động chấp nhận. Tuy nhiên, có một số chuyên ngành đào tạo cần phải kiểm định như y khoa, luật.
KĐCL không thể tách rời công tác TĐG của từng trường. Thông qua báo cáo TĐG, trường ĐH được kiểm định có trách nhiệm tuyên bố rõ ràng sứ mệnh của nhà trường, cung cấp các số liệu cần thiết về tổ chức và hoạt động trong nhà trường, chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mình. Thông thường phải mất khoảng một năm để một trường ĐH tiến hành TĐG và cung cấp báo cáo TĐG. Sau đó báo cáo TĐG sẽ được gửi để đội kiểm định trước khi đội kiểm định tiến hành đến thăm trường.
Với cách tiếp cận nhiều mô hình KĐCLGD khác nhau trên thế giới, chất lượng giáo dục của Việt Nam đang từng bước được ổn định, phù hợp với các nước châu Âu, châu Á - Thái Bình Dương. Mô hình này có nguồn gốc từ hệ thống đảm bảo chất lượng châu Âu, được mạng lưới chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQN) phát 8 triển và khuyến khích áp dụng cho các nước trong khu vực. Việt Nam chịu ảnh hưởng của các nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn. Những ảnh hưởng của các nước khác đến mô hình đảm bảo chất lượng của Việt Nam chủ yếu thông qua sự hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, UNESCO, mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE), mạng lưới chất lượng châu Á - Thái Bình Dương (APQN), mạng lưới đảm bảo chất lượng ASEAN (AQAN), SEAMEO vùa của một số nước khác như Hoa Kỳ, Australia,… Đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học đã nghiên cứu và xuất bản các giáo trình, các tài liệu tham khảo về quản lý chất lượng, KĐCLGD.
Trong đó, phải kể đến những tài liệu như: “Quản lý chất lượng dạy học” của tác giả Phạm Thành Nghị (2000); “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Đức Chính (2002); “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM” của tác giả Trần Khánh Đức” (2004); “Chất lượng giáo dục: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hữu Châu (2008); “Quản lý chất lượng trong giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Quang Giao (2015); “Quản lý chất lượng toàn diện” của Vũ Quốc Bình, (2003); “Quản lý chất lượng toàn diện: Con đường cải tiến và thành công” của Nguyễn Song Bình, Trần Thị Thu Hà ( 2006),. Các công trình này đã đề cập đến các khái niệm về chất lượng, chất lượng giáo dục đại học, quản lý chất lượng, quản lý chất lượng giáo dục đại học. Tại Hội nghị lần thứ VI ban chấp hành TW Đảng khoá IX (tháng 7/2002) đã nêu rõ: “Xây dựng cơ quan KĐCLGD theo mục tiêu GD”. Đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX (tháng 01/2004) tiếp tục nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc xây dựng và triển khai các hoạt động của hệ thống KĐCLGD”.