Chương I, Một số vấn đề lý luận về quản lý văn hóa; Chương II, Một số kinh nghiệm quản lý văn hóa trên thế giới; Chương III, Thực trạng quản lý văn hóa ở Việt Nam từ khi bắt đầu tiến trình đổi mới (1986) và Chương IV, Quan điểm, giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý về phát triển và quản lý văn hóa ở nƣớc ta hiện nay. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng với cuốn “Truyền thống Việt Nam qua di sản văn hóa: Nhận thức, khám phá và bảo tồn” [73]. Đây là cuốn sách tập hợp các bài viết của tác giả trong suốt quá trình làm việc trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa.
Nội dung cuốn sách gồm 64 bài viết đƣợc chia làm 03 phần chính: 1/Nhận thức gồm 24 bài viết; 2/Khám phá gồm 10 bài viết; 3/Bảo tồn gồm 30 bài viết. Tác giả có 02 bài viết cụ thể: Trƣớc hết, bài “Mô hình tổ chức quản lý các di sản thế giới, mười năm nhìn lại” [69]. Thông qua bài viết, tác giả đã nhìn nhận thành quả của một chặng đƣờng hơn 10 năm bảo vệ và phát huy giá trị di sản thiên nhiên thế giới, với những ngƣời làm công tác bảo vệ và phát giá trị di sản. Tác giả đã gửi tới thông điệp “để di sản đƣợc UNESCO công nhận là di sản thế giới đã khó, để gìn giữ đƣợc danh hiệu càng khó hơn” [69, tr.10], nên những nội dung là ƣu nhƣợc điểm đã đƣợc chỉ rõ, nhằm mục đích phải khắc phục để gìn giữ di sản phục vụ cộng đồng.
Tiếp đến, trong bài “Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo vệ di tích ở nước ta” [70], tác giả đã dẫn ra những nguy cơ hiện hữu đẩy di sản văn hóa và thiên nhiên của chúng ta đứng trƣớc cơ hội và thách thức: 1/Môi trƣờng thiên nhiên truyền thống của di sản bị lấn át, biến dạng; 2/ Không gian bị lấn chiếm, biến dạng; 3/Ô nhiễm do phát triển du lịch một cách ồ ạt, thái quá, không kiểm soát [70, tr. Năm 2013, Hội thảo khoa học 10 năm thực hiện công ước UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể - những bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai [20] do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Quảng Nam và Ủy ban UNESCO quốc gia Việt Nam tổ chức tại thành phố Hội An. Trong hội thảo này, các nhà khoa học đã tập trung làm rõ quan hệ mật thiết giữa bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể với bảo vệ di sản văn hóa vật thể, với đa dạng văn hóa, với sự tham gia của xã hội (cộng đồng địa phƣơng, các nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp.) vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa. 17 Năm 2014, hội thảo khoa học quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt nam [21] do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội.
Bàn về vấn đề quy chế phối hợp giữa các ban ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý di sản tại địa phƣơng, mô hình bộ máy quản lý của các khu di sản. Năm 2015, hội thảo khoa học Quản lý nhà nước về di sản văn hóa và hình ảnh điểm đến du lịch của các tỉnh miền trung [66] do Học viện Hành chính Quốc gia và cơ sở Học viện Hành chính cơ sở Miền Trung tổ chức tại thành phố Huế. Hội thảo quy tụ hơn 50 bài viết có chất lƣợng của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các học giả trong khu vực đƣợc chia thành các 4 chủ đề khác nhau bao gồm, chủ đề 1: Quản lý nhà nƣớc về Di sản văn hóa - Cơ hội và thách thức; chủ đề 2: Năng lực cạnh tranh và Quản lý nhà nƣớc về Di sản văn hóa và hình ảnh điểm đến; chủ đề 3: Quản lý nhà nƣớc về Di sản văn hóa và phát triển Kinh tế xã hội; chủ đề 4: Liên kết vùng với quản lý nhà nƣớc và hình ảnh điểm đến. Ngày 23/11/2015, Hội thảo khoa học Bảo tồn phát huy giá trị di sản thế giới nhìn từ Hoàng thành Thăng Long [132] do Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Ủy ban UNESCO Việt Nam tổ chức tại Hà Nội.
Nội dung hội thảo nêu ra ba vấn đề: thứ nhất, tổng kết, đánh giá kết quả 5 năm nghiên cứu Di sản Văn hoá Thế Giới Hoàng thành Thăng Long (giai đoạn 2010-2015); thứ hai, vấn đề Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di sản Văn hoá Thế Giới Hoàng thành Thăng Long; và thứ 3, quản lý bền vững các khu di sản Việt Nam và Thế giới - Kinh nghiệm, định hƣớng và kế hoạch hành động. Vấn đề quản lý di sản cũng đƣợc đề cập đến trong nhiều luận văn, luận án trong những năm gần đây, trong đó có tác giả đề cập vấn đề quản lý di sản văn hóa qua nghiên cứu trƣờng hợp cụ thể nhƣ: Quản lý di sản văn hóa làng trong quá trình đô thị hóa (trường hợp thị xã Từ sơn, tỉnh bắc Ninh) [80] của tác giả Nguyễn Thị Thu Hƣờng. Đây là công trình nghiên cứu về quản lý di sản văn hóa ở làng trong quá trình đô thị hóa, trƣờng hợp thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nhìn nhận vấn đề trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh, việc quản lý di sản văn hóa làng rất cần có một mô hình quản lý chung có thể tham khảo cho các làng Việt khác trong quá trình phát triển chung, tuy nhiên nghiên cứu của luận án mới chỉ dừng lại ở mức độ trƣờng hợp điển hình, chƣa có tính phổ quát chung.
Hay “Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” mà tác giả Trần Đức Nguyên, đã đƣa ra trong nội dung luận án tiến 18 sỹ quản lý văn hóa, Viện văn hóa Nghệ thuật Quốc gia, năm 2015. Tuy đã mở rộng hơn không gian nghiên cứu nhƣng, những vấn đề luận giải cũng chỉ dừng lại ở trƣờng hợp một tỉnh, thành phố cụ thể. Những nghiên cứu về tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc Một trong những tài liệu về bảo tồn kiến trúc của ICOMOS (Hội đồng Di tích và Di chỉ quốc tế), đó là “Lịch sử bảo tồn kiến trúc” [81] do tác giả Jukka Jokilehto viết, nội dung tập trung phân tích từ cách tiếp cận các công trình kiến trúc lịch sử trong quá khứ [81, tr.1-7], nêu những khái niệm về di tích lịch sử và di sản kiến trúc thời phục hƣng; thời kỳ khai sáng và các lý thuyết của Anh về thẩm mỹ; đến chủ nghĩa lãng mạn; sự phục chế phong cách. Khi bàn về công tác bảo tồn [81, tr.213- 243], tác giả đã nêu các nguyên tắc bảo tồn của John Ruskin, kiến trúc Gô-tích, Wiliam Morris và SPAB; cho đến những ảnh hƣởng của sự hợp tác quốc tế [86, tr.289-335], cuối cùng là định nghĩa và xu hướng, bàn về giá trị toàn cầu, tính xác thực, sự thống nhất, khoa học và kỹ thuật hiện đại, bảo tồn hiện đại và tiếp tục truyền thống là hai xu hƣớng đối lập nhau cùng tồn tại trong thời đại hiện nay.
Tác giả Đặng Văn Bài trong bài viết “Bàn về tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa là hoạt động khoa học có tính đặc thù chuyên ngành” [5] đã cho rằng hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích là một khoa học liên ngành. Do vậy, tuy không phải là một bộ môn khoa học độc lập, song cần có những nguyên tắc riêng nhƣ: 1/Trân trọng yếu tố nguyên gốc; 2/Nghiên cứu liên ngành; 3/Đƣa ra giải pháp tu bổ tối ƣu; 4/Chỉ tu bổ, tôn tạo khi có căn cứ khoa học xác thực; 5/Theo đuổi mục tiêu gia cố tăng cƣờng để gìn giữ di tích; 6/Quá trình tu bổ, tôn tạo di tích phải đƣợc đặt dƣới sự giám sát nghiêm ngặt của nhà quản lý, tƣ vấn giám sát và của cộng đồng. Khi “Bàn về tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa Bắc Ninh” [5] tác giả đã dẫn ra bốn trƣờng hợp cụ thể tu bổ di tích có kết quả đáng khích lệ trong thực hiện dự án đầu tƣ bảo tồn - phát huy giá trị di sản văn hóa là: Đền Lý Bát Đế; chùa Dạm; chùa Phật tích; đình Đình Bảng. Tác giả đề cập trực tiếp hai dự án tu bổ, tôn tạo di tích chùa ở Bắc Ninh, đó là chùa Dạm và chùa Phật Tích.
Cả hai di tích kiến trúc cổ, có thể đã từng đƣợc coi là Đại danh lam, tồn tại dƣới dạng phế tích, nhƣng vận dụng hai phƣơng pháp tu bổ, tôn tạo trái ngƣợc nhau. Với “chùa Dạm ngôi Quốc tự nổi tiếng, đƣợc bảo tồn nguyên trạng dấu tích kiến trúc phát lộ qua khai quật khảo cổ học, chỉ phỏng dựng các hạng mục công trình bao quanh di tích gốc” [5, tr.4-5], tuy nhiên việc làm này cũng gặp phải trở ngại về mặt bằng quanh di tích gốc. Với chùa Phật Tích đƣợc phục dựng căn bản dựa vào bản vẽ kiến trúc của Louis 19 Bezacier, kiến trúc sƣ nổi tiếng ngƣời Pháp và kết quả khai quật nền móng các hạng mục kiến trúc thời Lê Trung Hƣng, nhƣ việc thực hành trƣờng phái trùng tu theo phong cách, là trƣờng phái trái ngƣợc với bảo tồn nguyên trạng. Tác giả Hoàng Đạo Cƣơng trong bài “Các dạng hƣ hỏng thƣờng gặp của cấu kiện gỗ trong di tích kiến trúc” [35] đã đƣa ra nguyên nhân làm hƣ hỏng các cấu kiện gỗ trong di tích và biện pháp bảo quản, tu sửa đối với di tích.
Hay bài viết về “Các kiến trúc sƣ với công tác bảo tồn di tích” [36], trong kỷ yếu Xây dựng nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích ở Việt Nam, của Viện Bảo tồn di tích năm 2012. Phân tích vai trò của các kiến trúc sƣ, tham gia công tác bảo tồn và trùng tu di tích, đặc biệt ở khâu nghiên cứu khảo sát lập dự án bảo tồn. Là những tƣ liệu có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc.