Luận văn: Quản lý hoạt động trải nghiệm CT GDPT 2018 tại THPT Văn Bàn, Lào Cai

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích Quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các trường trung học phổ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

116
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Quản lý hoạt động trải nghiệm tại THPT Lào Cai

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của Nguyễn Thị Minh Huế đi sâu vào nghiên cứu việc quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường THPT huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Đây là một nhiệm vụ cấp thiết, xuất phát từ yêu cầu của Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Mục tiêu là chuyển quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Hoạt động trải nghiệm (HĐTN), đặc biệt là hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp, được xác định là con đường hiệu quả để hiện thực hóa mục tiêu này. Thông qua HĐTN, học sinh được vận dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó hình thành các kỹ năng sống, năng lực thích ứng và định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Việc quản lý hoạt động trải nghiệm hiệu quả trở thành yếu tố then chốt, đảm bảo chương trình được triển khai đồng bộ và đạt chất lượng. Nghiên cứu tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý, phân tích thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý khả thi. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với giáo dục tại Lào Cai, một tỉnh thuộc vùng khó khăn, mà còn cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho công tác đổi mới quản lý giáo dục trên cả nước. Việc quản lý đòi hỏi một quy trình bài bản từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra, đánh giá, đảm bảo mọi hoạt động đều hướng tới mục tiêu phát triển năng lực học sinhphát triển phẩm chất học sinh một cách toàn diện. Các cơ sở giáo dục cần bám sát tinh thần của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT để xây dựng chương trình phù hợp với bối cảnh địa phương.

1.1. Vai trò của hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp theo CT GDPT mới

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 nhấn mạnh vai trò của hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp như một cấu phần giáo dục bắt buộc. Hoạt động này không chỉ là những chuyến tham quan, ngoại khóa đơn thuần mà là một quá trình giáo dục có mục tiêu, nội dung và phương pháp rõ ràng. Mục đích chính là giúp học sinh khám phá bản thân, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp và có những quyết định lựa chọn hướng đi phù hợp sau khi tốt nghiệp. Thông qua các hoạt động như giao lưu với doanh nhân, tham quan cơ sở sản xuất, thực hiện các dự án cộng đồng, học sinh có cơ hội phát triển năng lực học sinh một cách thực chất. Các năng lực cốt lõi được hình thành bao gồm năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, và quan trọng nhất là năng lực định hướng nghề nghiệp. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện, gắn liền học đi đôi với hành, lý luận với thực tiễn.

1.2. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục cấp THPT theo Thông tư 32

Công tác quản lý giáo dục cấp THPT hiện nay phải tuân thủ theo các quy định của Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT. Văn bản này cung cấp khung pháp lý và định hướng chuyên môn cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục nhà trường. Đối với quản lý hoạt động trải nghiệm, hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ quản lý (CBQL) phải nắm vững các chức năng quản lý cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Cơ sở lý luận về quản lý chỉ rõ, việc lập kế hoạch phải dựa trên việc phân tích bối cảnh thực tiễn của nhà trường và địa phương. Công tác tổ chức đòi hỏi sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, huy động sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Chỉ đạo và kiểm tra giúp đảm bảo hoạt động đi đúng hướng và kịp thời điều chỉnh những sai sót, hướng đến mục tiêu cuối cùng là đổi mới quản lý giáo dục một cách bền vững.

II. Phân tích thực trạng quản lý hoạt động trải nghiệm ở Văn Bàn

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Huế đã tiến hành khảo sát tại 3 trường THPT trên địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, cho thấy một bức tranh đa chiều về thực trạng quản lý HĐTN. Mặc dù đã có những nỗ lực ban đầu, công tác quản lý hoạt động trải nghiệm vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Một trong những điểm yếu lớn nhất là việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường còn mang tính hình thức, chưa thực sự bám sát vào điều kiện thực tiễn và nhu cầu của học sinh. Nhiều trường còn nhầm lẫn giữa hoạt động tham quan, dã ngoại với HĐTN đúng nghĩa. Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào các hoạt động bề nổi, thiếu chiều sâu và chưa tạo cơ hội cho học sinh thực sự phát huy vai trò chủ thể. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận CBQL, giáo viên và cả học sinh về tầm quan trọng của HĐTN chưa đầy đủ. Kết quả khảo sát cho thấy một tỷ lệ không nhỏ vẫn xem đây là hoạt động phụ, không quan trọng bằng các môn văn hóa. Những khó khăn đặc thù của giáo dục ở vùng khó khăn như thiếu hụt cơ sở vật chất, kinh phí và đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng tổ chức HĐTN cũng là rào cản lớn. Thực trạng này đòi hỏi phải có những biện pháp quản lý đồng bộ và quyết liệt để nâng cao hiệu quả giáo dục và triển khai thành công chương trình giáo dục phổ thông mới.

2.1. Hạn chế trong nhận thức của CBQL giáo viên và học sinh

Kết quả khảo sát từ luận văn cho thấy một trong những nguyên nhân cốt lõi của hạn chế là nhận thức chưa đồng đều. Bảng 2.2 và 2.3 chỉ ra rằng, dù đa số CBQL và giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của HĐTN, nhưng việc chuyển hóa nhận thức thành hành động còn chậm. Nhiều giáo viên vẫn lúng túng trong phương pháp tổ chức, xem HĐTN là gánh nặng ngoài công việc giảng dạy chính. Về phía học sinh, các em chưa thấy được lợi ích thiết thực trong việc phát triển phẩm chất học sinh và kỹ năng cá nhân, một số còn tham gia với thái độ đối phó. Việc thiếu sự truyền thông và định hướng đúng đắn từ nhà trường đã tạo ra một rào cản vô hình trong việc triển khai hiệu quả hoạt động này.

2.2. Khó khăn trong giáo dục ở vùng khó khăn Nhân lực và CSVC

Giáo dục tại Lào Cai, đặc biệt tại huyện Văn Bàn, đối mặt với những thách thức của một địa bàn thuộc giáo dục ở vùng khó khăn. Cơ sở vật chất và kinh phí dành cho HĐTN rất hạn hẹp. Nhiều hoạt động đòi hỏi không gian ngoài lớp học, công cụ, phương tiện di chuyển nhưng nhà trường không đủ nguồn lực đáp ứng. Thêm vào đó, đội ngũ giáo viên chủ yếu được đào tạo chuyên môn giảng dạy đơn thuần, thiếu kỹ năng tổ chức sự kiện, kỹ năng làm việc nhóm hay quản lý dự án. Việc thiếu các khóa bồi dưỡng chuyên sâu về tổ chức hoạt động trải nghiệm khiến giáo viên gặp nhiều khó khăn khi triển khai, dẫn đến hiệu quả không như mong đợi.

2.3. Bất cập trong công tác lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện

Công tác lập kế hoạch và chỉ đạo được xem là xương sống của quản lý hoạt động trải nghiệm, nhưng thực trạng quản lý tại Văn Bàn cho thấy nhiều bất cập. Theo Bảng 2.7, việc xây dựng kế hoạch HĐTN còn chung chung, thiếu sự tham gia góp ý của giáo viên và học sinh. Các kế hoạch thường sao chép, chưa thể hiện được đặc thù của địa phương và nhà trường. Công tác chỉ đạo, theo dõi và hỗ trợ từ ban giám hiệu chưa thực sự sát sao. Việc kiểm tra, đánh giá sau hoạt động còn hời hợt, chủ yếu để lấy thành tích mà chưa rút ra được kinh nghiệm để cải tiến cho những lần tổ chức sau, làm giảm động lực của cả người dạy và người học.

III. Phương pháp đổi mới quản lý hoạt động trải nghiệm hiệu quả

Để khắc phục những hạn chế trong thực trạng quản lý, luận văn đề xuất một hệ thống các biện pháp quản lý đồng bộ, tập trung vào việc đổi mới quản lý giáo dục từ gốc. Nền tảng của sự đổi mới bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức cho toàn bộ các chủ thể tham gia. Cần tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn chuyên đề để CBQL, giáo viên, học sinh và cả phụ huynh hiểu đúng và đủ về vai trò của HĐTN trong việc phát triển năng lực học sinh. Từ nhận thức đúng, việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường sẽ trở nên thực chất hơn. Kế hoạch cần được xây dựng dựa trên các căn cứ khoa học, phân tích điều kiện thực tiễn và lấy học sinh làm trung tâm. Một yếu tố quan trọng khác là bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Họ cần được trang bị các kỹ năng cần thiết để trở thành người hướng dẫn, cố vấn thay vì người áp đặt. Việc quản lý hoạt động trải nghiệm hiệu quả cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong chỉ đạo và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục. Nhà trường cần chủ động kết nối với gia đình, chính quyền địa phương, doanh nghiệp để tạo ra một môi trường giáo dục mở, đa dạng và giàu tính thực tiễn. Những phương pháp này khi được áp dụng đồng bộ sẽ tạo ra một cú hích mạnh mẽ, giúp nâng cao hiệu quả giáo dục tại các trường THPT huyện Văn Bàn.

3.1. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm

Biện pháp đầu tiên và mang tính nền tảng là tổ chức các hoạt động truyền thông, bồi dưỡng để thay đổi nhận thức. Nhà trường cần làm rõ HĐTN không phải là hoạt động vui chơi đơn thuần mà là một phương pháp giáo dục tiên tiến, trực tiếp góp phần hình thành phẩm chất và năng lực cho người học theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới. Các buổi sinh hoạt chuyên đề, các khóa tập huấn cần có sự tham gia của các chuyên gia giáo dục để cung cấp cho giáo viên và CBQL những cơ sở lý luận về quản lý và phương pháp tổ chức HĐTN một cách khoa học. Đồng thời, cần tăng cường truyền thông đến phụ huynh để họ ủng hộ và đồng hành cùng nhà trường, tạo điều kiện cho con em tham gia.

3.2. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch HĐTN khoa học phù hợp thực tiễn

Một kế hoạch giáo dục nhà trường hiệu quả phải xuất phát từ thực tiễn. Thay vì các kế hoạch chung chung, hiệu trưởng cần chỉ đạo các tổ chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng khối lớp, từng chủ đề. Kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu cần đạt về năng lực, phẩm chất; nội dung hoạt động cụ thể; hình thức tổ chức đa dạng; thời gian, địa điểm, nguồn lực và phương án đánh giá. Quá trình xây dựng kế hoạch cần phát huy dân chủ, lấy ý kiến của học sinh để các hoạt động thực sự hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu, sở thích của các em. Điều này giúp biến việc tổ chức hoạt động trải nghiệm từ nhiệm vụ bị áp đặt thành hoạt động tự nguyện, sáng tạo.

IV. Bí quyết tổ chức HĐTN nhằm phát triển năng lực học sinh

Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm thành công không chỉ nằm ở kế hoạch tốt mà còn phụ thuộc vào nghệ thuật triển khai. Một trong những bí quyết then chốt là đa dạng hóa các loại hình hoạt động để tạo sự hứng thú và phù hợp với nhiều đối tượng học sinh. Thay vì chỉ gói gọn trong các hoạt động tại trường, cần mở rộng không gian ra cộng đồng thông qua các dự án phục vụ xã hội, các chuyến đi thực tế tại làng nghề, doanh nghiệp. Yếu tố cốt lõi để phát triển năng lực học sinh là phát huy vai trò chủ thể của các em. Giáo viên chỉ đóng vai trò người định hướng, hỗ trợ, còn học sinh phải là người tự lên ý tưởng, lập kế hoạch, phân công nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề phát sinh. Quá trình này giúp các em rèn luyện kỹ năng lãnh đạo, làm việc nhóm, tư duy phản biện và sáng tạo. Bên cạnh đó, công tác quản lý hoạt động trải nghiệm phải chú trọng việc huy động và phối hợp các lực lượng xã hội. Sự tham gia của phụ huynh, chuyên gia, nghệ nhân địa phương sẽ mang lại những kiến thức, kinh nghiệm thực tế quý báu mà sách vở không thể có được. Sự phối hợp này cũng là cách thực hiện xã hội hóa giáo dục, nâng cao hiệu quả giáo dục một cách bền vững trong bối cảnh giáo dục ở vùng khó khăn như Văn Bàn.

4.1. Đa dạng hóa loại hình để phát triển phẩm chất học sinh

Để phát triển phẩm chất học sinh như lòng nhân ái, trách nhiệm, trung thực, cần thiết kế các hoạt động mang tính xã hội và nhân văn. Các hình thức có thể bao gồm: tổ chức các chiến dịch tình nguyện (dọn dẹp môi trường, quyên góp cho bạn nghèo), các dự án tìm hiểu văn hóa địa phương, các diễn đàn, sân khấu hóa về các vấn đề đạo đức, lối sống. Sự đa dạng về hình thức không chỉ giúp học sinh không bị nhàm chán mà còn tạo cơ hội để mỗi cá nhân bộc lộ và rèn luyện những phẩm chất tốt đẹp. Đây là một trong những biện pháp quản lý quan trọng để HĐTN thực sự có chiều sâu và ý nghĩa giáo dục.

4.2. Cách phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong hoạt động

Trao quyền cho học sinh là cách hiệu quả nhất để phát huy vai trò chủ thể. Trong công tác quản lý hoạt động trải nghiệm, cần tạo ra một cơ chế mở để học sinh được tham gia vào mọi khâu, từ đề xuất ý tưởng, lựa chọn chủ đề, đến lập kế hoạch và tự đánh giá kết quả. Giáo viên có thể áp dụng các phương pháp dạy học dự án, học tập qua dịch vụ, để học sinh làm việc theo nhóm, tự nghiên cứu và giải quyết một vấn đề thực tiễn. Khi được tin tưởng và giao trách nhiệm, học sinh sẽ chủ động, sáng tạo hơn, từ đó các năng lực cốt lõi được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.

4.3. Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

Hoạt động trải nghiệm sẽ không thể thành công nếu chỉ gói gọn trong phạm vi nhà trường. Việc đổi mới quản lý giáo dục đòi hỏi phải phá bỏ bức tường ngăn cách giữa nhà trường và xã hội. Ban giám hiệu cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên với Hội cha mẹ học sinh, Đoàn Thanh niên địa phương, các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn. Sự hợp tác này không chỉ giúp huy động thêm nguồn lực về tài chính, cơ sở vật chất mà còn tận dụng được trí tuệ và kinh nghiệm từ cộng đồng, làm phong phú thêm nội dung và hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm, đặc biệt là các hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp.

V. Khảo nghiệm và ứng dụng biện pháp quản lý giáo dục tại Lào Cai

Các biện pháp quản lý được đề xuất trong luận văn không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn được khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi thông qua phương pháp chuyên gia. Kết quả khảo nghiệm được trình bày chi tiết trong Chương 3 của luận văn (Bảng 3.1 và 3.2), cho thấy sự đồng thuận cao từ các CBQL và giáo viên đang công tác tại các trường THPT huyện Văn Bàn. Đa số các ý kiến đều khẳng định các biện pháp này là rất cần thiết và hoàn toàn khả thi nếu có sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường và sự hỗ trợ từ các cấp quản lý cao hơn. Điều này chứng tỏ các giải pháp đưa ra đã bám sát thực trạng quản lý và phù hợp với bối cảnh đặc thù của giáo dục tại Lào Cai. Việc ứng dụng các biện pháp này vào thực tiễn quản lý giáo dục cấp THPT sẽ tạo ra một mô hình quản lý mới, năng động và hiệu quả hơn. Mô hình này sẽ giúp các trường THPT tại Văn Bàn từng bước tháo gỡ khó khăn, triển khai thành công chương trình giáo dục phổ thông mới, và quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả giáo dục, góp phần phát triển năng lực học sinhphát triển phẩm chất học sinh một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới.

5.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp

Luận văn đã sử dụng phiếu khảo sát để lấy ý kiến của 30 chuyên gia, CBQL và giáo viên cốt cán về 6 biện pháp quản lý được đề xuất. Kết quả phân tích từ Bảng 3.1 và 3.2 cho thấy điểm trung bình về tính cần thiết và tính khả thi của tất cả các biện pháp đều ở mức cao (trên 2.5/3.0). Đặc biệt, các biện pháp như "Nâng cao nhận thức" và "Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên" được đánh giá là cấp thiết và khả thi nhất. Kết quả này là một cơ sở khoa học vững chắc, khẳng định rằng các giải pháp đổi mới quản lý giáo dục do tác giả đề xuất có giá trị thực tiễn cao và có thể triển khai ngay tại các trường.

5.2. Mô hình quản lý HĐTN cho các trường thuộc vùng khó khăn

Từ các biện pháp đã được khảo nghiệm, có thể xây dựng một mô hình quản lý hoạt động trải nghiệm linh hoạt cho các trường thuộc giáo dục ở vùng khó khăn. Mô hình này có các đặc điểm chính: (1) Lấy công tác nâng cao nhận thức làm trọng tâm; (2) Xây dựng kế hoạch mở, linh hoạt, dựa vào nguồn lực sẵn có của địa phương; (3) Tăng cường tự bồi dưỡng trong đội ngũ giáo viên thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn; (4) Ưu tiên các hoạt động không tốn kém nhưng giàu ý nghĩa giáo dục như các dự án cộng đồng, tìm hiểu văn hóa bản địa; (5) Xây dựng mạng lưới kết nối chặt chẽ với phụ huynh và các tổ chức xã hội để huy động nguồn lực. Mô hình này không chỉ phù hợp với Văn Bàn mà còn có thể nhân rộng cho các địa phương có điều kiện tương tự.

04/10/2025
Quản lý hoạt động trải nghiệm theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở các trường trung học phổ thông huyện văn bàn tỉnh lào cai luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm Vấn đề học tập qua trải nghiệm không phải là vấn đề mới với nhiều nước trên thế giới, nhưng với Việt Nam vấn đề này còn khá mới. Đặc biệt chưa có tài liệu nghiên cứu, tác phẩm, luận văn, luận án nào trình bày cụ thể, chi tiết đến tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm.

Vì vậy trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo, tiếp cận các loại tài liệu đề cập đến những vấn đề chung của hoạt động trải nghiệm như sau: Trên thế giới, lý luận về giáo dục đã được nhiều các nhà tâm lí học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện từ khá sớm. Hệ thống lý luận về hoạt động trải nghiệm sáng tạo tuy đã có nhiều nghiên cứu khác nhau song được trình bày thống nhất với hệ thống lí luận về hoạt động dạy học. Đầu tiên phải kể đến lý thuyết hoạt động nghiên cứu về bản chất quá trình hình thành con người; Luận điểm cơ bản của Lý thuyết hoạt động, đã trở thành nguyên tắc nghiên cứu bản chất người và quá trình hình thành con người, đó là “Tâm lí hình thành thông qua hoạt động”. Điều này có nghĩa là, chỉ thông qua các hoạt động của chính bản thân con người, thì bản chất người, nhân cách người đó mới được hình thành và phát triển.

Hoạt động chính là phương thức tồn tại của con người. Không có hoạt động thì không có con người, do vậy cũng không có xã hội loài người. Nguyên tắc “Tâm lí hình thành thông qua hoạt động” có ý nghĩa chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục con người trong nhà trường, học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo v.v là hoạt động của chính người học. Con người tự lực hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân.

6 Như vậy trên thế giới quan niệm về hoạt động trải nghiệm đã được nhắc đến từ lâu. Mặc dù có nhiều quan điểm nhưng đều đề cập đến cách học thông qua hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu và kết hợp giữa lí thuyết và thực hành trong thực tế. Ở Việt Nam, từ giai đoạn đầu của nền giáo dục Việt Nam dân chủ cộng hòa, Bác Hồ cũng đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đức là: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Xác định tầm quan trọng của HĐTN trong dạy học, Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh là một phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học.

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho học sinh phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức, phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng v.v để học sinh có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Trong Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Việt Nam sau 2015, cũng đề cập đến 8 lĩnh vực học tập chủ chốt và hoạt động giáo dục với tên gọi hoạt động trải nghiệm.

Trong đó, hoạt động trải nghiệm là hoạt động mới với cả 3 cấp học, được phát triển từ hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa của chương trình hiện hành, được thiết kế thành các chuyên đề tự chọn nhằm giúp học sinh phát triển các năng lực, kỹ năng, niềm tin, đạo đức v.v nhờ vận dụng những tri thức, kiến thức, kỹ năng đã học được từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo thông qua các hình thức và phương pháp chủ yếu như: tham quan, thực địa, câu lạc bộ, hoạt động xã hội, tình nguyện, diễn đàn, giao lưu, hội thảo, trò chơi, cắm trại, thực hành lao 7 động v. Điều này cho thấy tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng như định hướng đổi mới mạnh mẽ hoạt động này ở các trường phổ thông trong giai đoạn tới. Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động trải nghiệm trong nhà trường để nhằm phục vụ cho xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông mới: Bài viết của PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, ĐHGD - ĐHQGHN “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” có đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm. Trong đó, “học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân” [23, tr.

Tác giả cũng đưa ra mô hình và chu trình học từ trải nghiệm của David Kolb và vận dụng lý thuyết “Học từ trải nghiệm” của Kolb vào việc dạy học và giáo dục trong trường học. Theo tác giả, để phát triển sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm. Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực v.v Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Tính với đề tài nghiên cứu: "Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT khu vực miền núi phía Bắc trong bối cảnh hiện nay" đã đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT khu vực miền núi phía Bắc thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động trải nghiệm sáng tạo gắn với nội dung các môn học. Tác giả Nguyễn Thu Hoài với đề tài nghiên cứu về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo giải pháp phát huy năng lực người học (2014) đã đề xuất quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh phổ thông.

8 Ngoài ra còn rất nhiều các đề tài nghiên cứu về Hoạt động trải nghiệm nhất là các đề tài bảo vệ luận văn tiến sĩ, thạc sĩ. Tuy nhiên, các nghiên cứu về quản lý HĐTN ở trường THPT còn ít và mới chỉ ở giai đoạn “thử nghiệm”, việc triển khai HĐTN ở nhiều trường còn mang tính hình thức, chưa có kế hoạch triển khai cụ thể; một số trường vẫn còn nhầm lẫn giữa hoạt động tham quan dã ngoại với HĐTN. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động trải nghiệm Ở Việt Nam, hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp luôn được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Từ những năm 1990 trở về trước, hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp được coi là các hoạt động ngoại khóa, được triển khai thực hiện tùy theo đặc điểm và điều kiện của từng trường, từng địa phương, dẫn đến việc thực hiện khá tùy tiện, thậm chí không được quan tâm v.v vì vậy hiệu quả hoạt động còn thấp.

Từ năm 1990 đến 1995, với những yêu cầu đổi mới toàn diện trong giáo dục, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đã được định hướng rõ nét hơn. Từ sau năm 1995, chính thức từ năm 2004, Bộ GD&ĐT đưa hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp vào kế hoạch dạy học và giáo dục trong toàn bộ các trường phổ thông, có vị trí quan trọng như một môn học. Vì vậy vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp cho học sinh các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông đã được giới nghiên cứu quan tâm. Từ năm 2001 bắt đầu có những nghiên cứu về hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giáo khoa cho từng cấp học và các sáng kiến kinh nghiệm.

Điển hình là sự đóng góp của các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Bùi Sỹ Tụng, Lê Thanh Sử v.v đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề: vị trí, mục tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức của hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp, vai trò chủ thể của học sinh, các biện pháp quản lý, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức tốt hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp cho học sinh. 9 Tuy nhiên trên thực tế, việc triển khai hoạt động giáo dục- ngoài giờ lên lớp hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, liên quan đến phương pháp, cách thức tổ chức, kỹ năng tổ chức của giáo viên, kỹ năng tự quản, tự tổ chức hoạt động của học sinh v.v Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp hình thành, phát triển ở học sinh năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp; đồng thời góp phần hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung quy định trong Chương trình tổng thể. Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp giúp học sinh khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đời sống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tình người, có quan niệm sống và ứng xử đúng đắn, đồng thời bồi dưỡng cho học sinh tình yêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam trong một thế giới hội nhập. Mục tiêu cấp trung học phổ thông Hoạt động trải nghiệm giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ