mở đầu là nội dung “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh vào dạy học – giáo dục- quản lý nhà trường” cùng 4 chuyên đề: 1. Chuyên đề 1: Những vấn đề chung về quản lý tổ chuyên môn trong trường trung học 2. Chuyên đề 4: Xây dựng kế hoạch của tổ chuyên môn 3. Chuyên đề 2: Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý hoạt động dạy học trong trường trung học 4.
Chuyên đề 3: Tổ trưởng chuyên môn với công tác quản lý phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trường trung học Các chuyên đề nêu trên cố gắng bao quát kiến thức, kỹ năng quản lý chủ yếu của TTCM ở trường THCS, THPT. Tài liệu được trình bày đan xen, kết hợp giữa lý thuyết và tổ chức các hoạt động nhằm tăng cường tối đa khả năng vận dụng, thực hành của các học viên tham gia tập huấn. Trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Bộ Giáo dục chủ trương đổi mới các sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường. Thực hiện kế hoạch số 80/KH-BGDĐT ngày 25 tháng 2 năm 2014, Cục nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục chỉ đạo, tổ chức biên soạn bộ Tài liệu tập huấn đổi mới sinh hoạt chuyên môn gồm 2 cuốn dành cho cấp tiểu học và cấp trung học với sự hỗ trợ của Chương trình Đảm bảo chất lượng giáo dục trường học (SEQAP) [10].
Cấu trúc mỗi cuốn gồm 2 phần: Phần 1: Các kỹ năng sinh hoạt chuyên môn; 10 Phần 2: Một số nội dung thực hành sinh hoạt chuyên môn. Cuốn sách có nội dung đảm bảo tính khoa học, thiết thực và phù hợp với thực tiễn giáo dục đối với từng cấp học của nước ta hiện nay. - Các nghiên cứu về quản lý hoạt động tổ chuyên môn Có nhiều đề tài nghiên cứu về QL hoạt động tổ CM nhằm mục đích nâng cao chất lượng GD của nhà trường như: “Quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn thị xã Sơn Tây, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Kim Anh, Luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục – 2014 [1]; “Thực trạng quản lý tổ chuyên môn các trường trung học phổ thông huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương” của tác giả Phạm Trọng Sang, Luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục – 2014 [36]; “Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn ở trường trung học phổ thông Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Luyện Ngọc Thắng, Luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục – 2015 [39]. Trong các đề tài này, dưới góc độ của Luận văn, các tác giả đã tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động tổ chuyên môn ở các trường tham gia khảo sát, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học ở các trường phổ thông.
Một số biện pháp đáng chú ý có thể kể đến như: Nâng cao nhận thức cho tổ trưởng chuyên môn về hoạt động tổ chuyên môn; Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng năng lực cho tổ trưởng tổ chuyên môn; Tăng cường quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn theo hướng đổi mới;. Nhìn chung, các đề tài luận văn trên được tiếp cận theo các chức năng quản lý và phân tích các nội dung quản lý để nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại một địa phương cụ thể. Cho đến nay chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu về lĩnh vực quản lý hoạt động tổ chuyên môn tại các trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tổ chuyên môn hiệu quả hơn. Đề tài sẽ hệ thống hóa lý luận về quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo các nội dung quản lý cụ thể; khảo sát và phân tích thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT thuộc huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Từ đó, đề xuất các biện pháp quản lý hiệu quả đối với hoạt động tổ chuyên môn trong trường THPT tại địa phương. Các khái niệm của đề tài 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý 11 Có nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lý”.
Quản lý là một từ Hán Việt, theo Bửu Kế : “Quản : Bao trùm, trông coi tất cả ”, “Lý: chỉnh đốn”, quản lý thường dùng để chỉ người trông coi, sắp đặt công việc [22, tr. 1516] Theo Hoàng Phê và các đồng tác giả trong Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội năm 1988: Quản lý là một động từ, có nghĩa là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định hoặc tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [31, tr. 829] Quản lý là khái niệm được hình thành, tồn tại trong lao động của xã hội loài người. Sử gia Daniel A.
Wren nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”, nhưng ông cũng ghi nhận rằng chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” quản lý [13, tr. Từ thế kỷ XIX đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý. Trong đó, Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) – cha đẻ thuyết quản lý khoa học cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [38, tr. 15] với bốn nguyên tắc: 1.
Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành. Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành. Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc chắn rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn. Phân chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bổn phận phải lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý khoa học, còn người công nhân có bổn phận thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó [28, tr.
29] Theo Harold Koontz thì lại cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. 638] Mai Hữu Khuê có định nghĩa về quản lý như sau: “Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên 12 của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý.
Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thủy, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối” [23, tr. 45] Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [34, tr. Trong tác phẩm Đại cương khoa học quản lý, hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc quan niệm: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức ” [13, tr. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất của hoạt động quản lý gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình quản gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định, quá trình lý gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ đưa vào hệ phát triển.
Trong quản phải có lý, trong lý phải có quản để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các cá nhân bên trong (nội lực) với các cá nhân bên ngoài (ngoại lực)” [4, tr. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Quản lý là quá trình tác động có kế hoạch, có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định.Quản lý giáo dục Giáo dục hình thành và tồn tại trong xã hội loài người, là một hoạt động thực tiễn tồn tại khách quan. Giáo dục là một quá trình hoạt động, để quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao nhất thiết cần có sự quản lý. Có nhiều tác giả đã khái quát về QLGD như sau: - Tác giả M.Kônđacốp cho rằng: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ chức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính.
nhằm đảm bảo vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [25, tr. 13 - Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [5, tr. - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội” [24, tr. - Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” [19, tr.