Chương 1: cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long Phần 3. Kết luận và khuyến nghị Ngoài phần chính văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. 4 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế.
Hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay. Nhận thức được xu thế thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã chủ động tích cực hội nhập cộng đồng quốc tế. Quá trình hội nhập đã giúp chúng ta có điều kiện phát triển kinh tế cũng như vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được khẳng định. Trên lĩnh vực văn hóa, văn hóa Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình ấy.
Trong hội nhập văn hóa, chúng ta phải có những nguyên tắc nhất định để bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới. Nắm bắt được xu hướng hội nhập toàn cầu cũng như tầm quan trọng của nghệ thuật, công tác đào tạo nghệ thuật cũng được ngành giáo dục chú trọng và phát triển. Bên cạnh các kiến thức nghệ thuật nói chung, hoạt động thực hành biểu diễn là một vấn đề quan trọng được quan tâm rất nhiều trong thời gian gần đây. Bàn về hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật và quản lý hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật, đã có một vài công trình nghiên cứu: Luận văn Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp tỉnh Thái Bình của tác giả Phạm Tấn Anh (2013) đã trình bày cơ sở lý luận và thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ở Thái Bình.
Đồng thời đưa ra những giải pháp cho nghệ thuật biểu diễn ở Thái Bình phát triển phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay. Luận văn thạc sỹ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống ở Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch của tác giả Lê Thị Thu Hiền (2009) đã trình bày những vấn đề chung và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch. Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động này. 5 download by : skknchat@gmail.com Tác giả Trần Thục Quyên với luận văn thạc sỹ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ đã xây dựng cơ sở lý luận hoạt động biểu diễn nghệ thuật cũng như nêu lên thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ.
Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ Tác giả Nguyễn Bích Vân với luận án Tiến sĩ (2010): “Rèn luyện bản lĩnh biểu diễn cho học sinh, sinh viên nhạc cụ cổ điển phương Tây” đã nghiên cứu sự hình thành năng lực biểu diễn và giới thiệu một số phương pháp rèn luyện bản lĩnh biểu diễn cho học sinh, sinh viên nhạc cụ cổ điển phương tây tại Việt Nam. Khẳng định vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, vấn đề Quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật thì chưa có đề tài nào đề cập đến. Vì vậy chúng tôi lựa chọn “Quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật” làm đề tài nghiên cứu.
Một số khái niệm 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động đặc biệt được hình thành từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động trong xã hội, khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá thể đơn lẻ. Đó là một hoạt động giành cho những người đứng đầu của một tổ chức (hay một nhóm) để chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển/điều hành, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức (nhóm) và các thành viên trong tổ chức (nhóm) đó. Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về Quản lý.
Theo quan điểm kinh tế học, F.W Taylor (1856 -1915) - một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “thuyết quản lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế 6 download by : skknchat@gmail.com nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”. Theo ông: “Mọi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và quản lý chặt chẽ” [dẫn theo 21, tr.Koontz, “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [dẫn theo 21, tr. Có thể nói, Quản lý đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, là một yếu tố không thể thiếu và gắn liền với sự phát triển của xã hội, đặc biệt trong xã hội phát triển ngày nay.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thi ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [dẫn theo 21,tr. Định nghĩa về Quản lý, tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt trong cuốn Giáo dục học (nhà xuất bản Giáo dục, 1987) cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [18]. Trong cuốn Giáo dục học (nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000), tác giả Phạm Viết Vượng đưa ra định nghĩa về Quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung phù hợp với quy luật khách quan” [23, tr. Như vậy, Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra.
Theo cách hiểu trên, quản lý luôn tồn tại các yếu tố cơ bản sau đây: 7 download by : skknchat@gmail.com - Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người): là trung tâm thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý - Đối tượng quản lí (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…): là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý. - Mục tiêu quản lí: nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động; là trạng thái tương lai, cái tiêu điểm tương lai hay cái kết quả cuối cùng mà một tổ chức mong muốn đạt đến. Các hoạt động quản lý đều phải thực hiện thông qua các chức năng quản lý. Xác định được các chức năng quản lý sẽ giúp cho chủ thể quản lý dễ dàng điều hành được hệ thống quản lý.
Giáo dục Nghệ thuật Giáo dục nghệ thuật là hoạt động chuyển giao di sản văn hóa nghệ thuật giữa các thế hệ và là một hoạt động mang tính liên ngành. Do đó, cơ sở lý luận của giáo dục nghệ thuật được xây dựng dựa trên các học thuyết về văn hóa học, nghệ thuật học, giáo dục học và tâm lý học. Giáo dục nghệ thuật là một trong những nhiệm vụ cơ bản, góp phần trợ giúp đơn vị làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật thực hiện tốt chức năng của mình. Tiến hành hoạt động giáo dục nghệ thuật có thể tạo thêm giá trị gia tăng cho chương trình biểu diễn nghệ thuật, xây dựng đội ngũ khán giả tiềm năng, kết nối cộng đồng và thu hút các nguồn tài trợ cho đơn vị.
Bàn về khái niệm Giáo dục nghệ thuật, tác giả Phạm Bích Huyền cho rằng: "Giáo dục nghệ thuật (Arts Education) gồm các hoạt động giáo dục về nghệ thuật và giáo dục thông qua nghệ thuật. Giáo dục về nghệ thuật là hoạt động giáo dục nhằm tạo nên sự hiểu biết, khả năng thưởng thức, thực hành và sáng tạo một loại hình nghệ thuật cụ thể. Nội dung của hoạt động giáo dục nghệ thuật là những tri thức và kỹ năng về nghệ thuật, như hoạt động dạy vẽ, 8 download by : skknchat@gmail.com dạy múa, dạy hát, dạy biểu diễn. Giáo dục thông qua nghệ thuật thì sử dụng nghệ thuật như công cụ hát phương pháp để đạt được mục tiêu giáo dục (hỗ trợ học tập trong nhà trường, phát triển năng lực cá nhân, thay đổi nhận thức và hành vi…).
Ví dụ: sử dụng nghệ thuật sân khấu để giáo dục về lịch sử, văn học; thông qua di sản văn hóa giáo dục về lòng yêu nước, tự hào dân tộc…" [10]. Như vậy, bản chất của giáo dục nghệ thuật là quá trình chuyển giao các di sản văn hóa nghệ thuật từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mục đích của giáo dục nghệ thuật là tác động đến đối tượng giáo dục nhằm phát triển năng lực nghệ thuật cũng như nhận thức tình cảm, góp phần hoàn thiện nhân cách con người. Giáo dục nghệ thuật có chức năng định hướng giá trị nghệ thuật cho thế hệ trẻ và phát triển tiềm năng sáng tạo nghệ thuật cho giới trẻ.
Định hướng giá trị nghệ thuật tức là giúp cho thế hệ trẻ phân biệt được cái nghệ thuật và cái phi nghệ thuật, có xúc cảm trước các tác phẩm nghệ thuật, biết thưởng thức và đánh giá.