phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh ở trƣờng THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh ở các trƣờng THCS thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KỸ THUẬT CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh Tại Đại hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam lần thứ 2 - 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã lƣu ý học sinh, sinh viên “lý luận phải gắn liền với thực tế”, Bác nói: “… Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không biết thực hành thì cũng là trí thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học về lý luận thì cũng phải kết hợp với thực hành và tất cả các ngành khác đều phải: lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động… ” [17].
Bác lƣu ý thêm: “Cần có lao động, lao động trí óc và lao động chân tay. Và cần lao động trí óc kiêm lao động chân tay, nghĩa là lao động chân tay cũng phải có văn hoá, mà người lao động trí óc cũng phải làm được lao động chân tay. Nếu lao động trí óc không làm được lao động chân tay và lao động chân tay không có trí óc thì đó là người lao động bán thân bất toại. Nhƣ vậy, học sinh, sinh viên ngoài việc học kiến thức sách vở, thì cần phải đƣợc thƣờng xuyên nâng cao khả năng thực hành, biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn, biết dùng trí óc và đôi bàn tay để trực tiếp ứng dụng, vận dụng đƣợc những kiến thức đã học đƣợc.
Để đạt đƣợc mục tiêu này, vai trò rất lớn thuộc và các cấp quản lý giáo dục, về nhà trƣờng, về phía ngƣời giáo viên. Các nhà trƣờng cần phải tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên đƣợc làm thực hành, thí nghiệm nhiều hơn, thƣờng xuyên tổ chức cho học sinh, sinh viên học tập ngoài giảng đƣờng nhƣ: tham quan, thực tập trong các nhà máy, xƣởng sản xuất, khuyến khích học sinh tự nghiên cứu. Với những phân tích, đánh giá trên, chúng ta có thể thấy, cho dù đã trải qua hơn 6 60 năm, nhƣng tƣ tƣởng và những lời căn dặn của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị về lý luận và bài học thực tiễn sâu sắc, đó là bài học về việc phƣơng pháp đào tạo dạy và học phải thực chất; học tập phải đi đôi với thực hành, sáng tạo; kiến thức phải đảm bảo thực hiện kỹ năng. Tƣ tƣởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục đã đƣợc vận dụng, quán triệt trong các Nghị quyết của Đảng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, BCH Trung ƣơng Đảng khoá VIII đã khẳng định: “…Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…” [5]. Năm 1991, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đƣợc Bộ Giáo dục và Đào tạo giao chủ trì đề tài: “Nghiên cứu những biện pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ và lao động sản xuất trong nhà trường” mã số B91-38- do Vũ Tiến Trinh làm chủ nhiệm [dẫn theo 1]. Năm 1995, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đƣợc Giáo dục và Đào tạo giao cho chủ trì đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng tiềm lực khoa học và công nghệ trong nhà trường”.
Những đề tài đƣợc tiến hành nghiên cứu và đã có những đóng góp nhất định cho công tác quản lý hoạt động khoa học công nghệ của ngành giáo dục. Tuy nhiên, với sự phát triển về lý luận, khoa học công nghệ nhƣ hiện nay, các biện pháp đƣợc đề ra thực sự phù hợp trong một giới hạn nhất định do thực tiễn đã có rất nhiều thay đổi, đặt ra những yêu cầu đòi hỏi cao hơn rất nhiều. Nối tiếp xu hƣớng đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đƣợc tiến hành và hoàn thành nhƣ: “Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học” của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo. “Tổ chức dạy học cho học sinh dân tộc miền núi” của tác giả Phạm Hồng Quang [21], “Quá trình dạy - Tự học” do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên và các tác giả [24].
Các công trình đã 7 có những tác động mới đối với công tác quản lý, tổ chức hoạt động hƣớng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, tăng cƣờng vận dụng kiến thức lý thuyết để thực hành sáng tạo khoa học trong nhà trƣờng. Hà Thế Ngữ và các tác giả trong bài viết Những vấn đề về Giáo dục học [18] đã đề cập đến việc đưa nghiên cứu khoa học vào trường học sẽ thúc đẩy sự phát triển khoa học giáo dục, đem lại những tiến bộ vững chắc cho việc dạy học và giáo dục đồng thời nâng cao hiệu quả đào tạo ở các trường sư phạm. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 2, khóa VIII của Đảng khẳng định: “…Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội …. tǎng nội dung khoa học, công nghệ ứng dụng, tǎng cường giáo dục kỹ thuật tổng hợp và nǎng lực thực hành ở bậc học phổ thông” [5].
Trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nƣớc, các ban ngành và đoàn thể xã hội đã tạo ra nhiều chủ trƣơng, chính sách và sân chơi khoa học để thúc đẩy phong trào nghiên cứu khoa học của học sinh phổ thông. Các hoạt động này, ngày càng đƣợc thực hiện mạnh mẽ và hiệu quả, nhiều đơn vị nhà trƣờng đã hƣởng ứng và có nhiều giải pháp để khuyến khích giáo viên và học sinh tham gia. Có thể kể ra các hoạt động khuyến khích việc nghiên cứu khoa học nhƣ: Cuộc thi Khoa học và kỹ thuật dành cho học sinh trung học, hay Cuộc thi Sáng tạo Thanh thiếu niên, Nhi đồng, Hội thi Tin học trẻ không chuyên, Cuộc thi Sáng tạo xanh,. và nhiều hoạt động khuyến khích việc nghiên cứu khoa học phong phú khác.
Việc phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học trong trƣờng phổ thông đã: Góp phần tích cực vào đổi mới phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh; Tăng cƣờng việc vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống trong thực tiễn; góp phần nâng cao năng lực hƣớng dẫn nghiên cứu khoa học, chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên; giúp cho giáo viên nhìn lại quá trình dạy học để tự điều chỉnh phƣơng pháp dạy học, phƣơng pháp giáo dục học sinh cho phù hợp với đối tƣợng và hoàn cảnh cụ thể. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh Trong những năm trở lại đây, nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đã và đang nghiên cứu về vấn đề này nhƣ: Năm 2005, Đỗ Thị Nhung “Các biện pháp quản lý hoạt động NCKH của trường CĐSP Hưng Yên”, Luận văn Thạc sỹ quản lý giáo dục, ĐHSP Hà Nội [19]; Trần Thị Ninh Giang với đề tài “Thực trạng và giải pháp cải tiến công tác quản lý hoạt động NCKH của sinh viên trong các trường đại học” [10]. Nguyễn Đức Trí với đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh hoạt động KHCN của các trường CĐ và THCN” [Dẫn theo 26]. Tác giả Đặng Quang Đoàn với công trình “Quản lý hoạt động NCKH của học sinh các trường THCS thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên” [9].
Tác giả Bùi Tiến Phong với công trình nghiên cứu “Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật của học sinh các trường Phổ thông Dân tộc Bán trú trung học cơ sở thuộc huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”[26]. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nghiều khía cạnh khác nhau của hoạt động NCKH và đã giải quyết nhiều vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, NCKH KT của học sinh là một vấn đề rộng lớn và mang tính thời sự, đòi hỏi đáp ứng yêu cầu cả thực tiễn xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh đổi mới giáo sục nhƣ hiện nay. Mỗi địa phƣơng, vùng miền khác nhau sẽ có nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu, vẫn đề khác, gắn với điều kiện thực tiễn vùng miền.
Thành phố Lào Cai là thành phố vùng giáp biên giới Trung Quốc, những năm gần đây có sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, giáo dục phổ thông cũng có nhiều thành tựu, hoạt động NCKHKT của học sinh THCS có nhiều điểm sáng. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu vấn đề này. Một số khái niệm công cụ 1. Khoa học, nghiên cứu khoa học 1.
Khoa học Thuật ngữ “khoa học” đƣợc hiểu theo nhiều góc độ và mức độ nhận thức khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận của mỗi tác giả. 9 Theo Luật khoa học và công nghệ thì: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tƣợng tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Theo Phạm Viết Vƣợng thì: “Khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực khách quan, tạo ra hệ thống chân lý về thế giới. Hệ thống chân lý này đƣợc diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù trừu tƣợng, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết…Khoa học phản ánh thế giới bằng các phƣơng thức và công cụ đặc biệt.
Khoa học không những hƣớng vào giải thích thế giới mà còn nhằm cải tạo thế giới. Khoa học làm cho con ngƣời mạnh mẽ trƣớc thiên nhiên, bắt thiên nhiên phục vụ cuộc sống của mình” [27, tr 14].