Luận Văn Thạc Sĩ: Quản lý NCBH Tổ Chuyên môn THPT Tử Đà, Phú Thọ - Vũ Ngọc Minh

Khám phá luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn tại trường THPT Tử Đà, Phú Thọ. Nâng cao chất lượng giảng dạy.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

120
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

4. Giả thuyết khoa học

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

7. Phương pháp nghiên cứu

8. Đóng góp của đề tài

9. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn

1.3. Cơ sở khoa học của hoạt động NCBH

1.4. Tổ chuyên môn

1.5. Sinh hoạt tổ chuyên môn theo NCBH

1.6. Hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT

1.7. Quản lý nhà trường THPT; chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT

1.7.1. Quản lý nhà trường

1.7.2. Quản lý nhà trường THPT

1.7.3. Chức năng, nhiệm vụ của Hiệu trưởng và vấn đề quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn

1.8. Nội dung quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT

1.8.1. Xây dựng kế hoạch triển khai hoạt động NCBH của nhà trường

1.8.2. Bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn cho giáo viên

1.8.3. Chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH

1.8.4. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH của các tổ chuyên môn

1.8.5. Tạo động lực cho đội ngũ TTCM, GV và học sinh

1.9. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT

1.9.1. Nhóm nhân tố thuộc về chủ thể quản lý

1.9.2. Nhóm nhân tố thuộc về đối tượng quản lý

1.9.3. Các nhân tố thuộc về môi trường quản lí

1.10. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT TỬ ĐÀ HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Đặc điểm tình hình giáo dục THPT huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ và trường THPT Tử Đà

2.1.1. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

2.1.2. Tình hình giáo dục của huyện Phù Ninh năm học 2013 - 2014

2.1.3. Tình hình phát triển giáo dục THPT của huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

2.2. Thực trạng hoạt động NCBH của tổ chuyên môn trường THPT Tử Đà

2.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về hoạt động NCBH đối với việc phát triển nghề nghiệp của giáo viên

2.2.2. Thực trạng đánh giá của CBQL, GV về kết quả thực hiện hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.2.3. Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.2.4. Thực trạng các cá nhân nghiên cứu bài dạy và soạn bài theo nhiệm vụ phân công ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà

2.2.5. Thực trạng việc thảo luận về mục tiêu, nội dung bài dạy ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà

2.2.6. Thực trạng cá nhân tự soạn bài - sáng tạo cá nhân

2.2.7. Thực trạng việc thực hiện giờ dạy minh họa trên lớp của giáo viên ở trường THPT Tử Đà

2.2.8. Thực trạng việc thảo luận, chia sẻ về bài học sau dự giờ mẫu ở tổ chuyên môn của trường THPT Tử Đà

2.2.9. Thực trạng việc áp dụng bài học cho thực tế dạy học hàng ngày của giáo viên ở trường THPT Tử Đà

2.2.10. Đánh giá hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.3. Thực trạng quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.3.1. Thực trạng nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn đối với phát triển nghề nghiệp của giáo viên

2.3.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên ở trường THPT Tử Đà

2.3.3. Thực trạng bồi dưỡng năng lực NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn cho giáo viên ở trường THPT Tử Đà

2.3.4. Thực trạng chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.3.5. Thực trạng đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.3.6. Thực trạng xây dựng chế độ đãi ngộ, tạo động lực cho đội ngũ tổ trưởng chuyên môn và giáo viên ở trường THPT Tử Đà

2.4. Đánh giá thực trạng và nguyên nhân

2.4.1. Đánh giá thực trạng

2.4.2. Những thành công

2.4.3. Những hạn chế

2.5. Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT TỬ ĐÀ HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu và pháp lý

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.2. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động NCBH trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường THPT Tử Đà huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

3.2.1. Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tạo niềm tin cho giáo viên về những thay đổi trong phát triển nghề nghiệp khi tham gia hoạt động NCBH

3.2.2. Xây dựng kế hoạch, quy chế sinh hoạt chuyên môn trong hoạt động NCBH của nhà trường

3.2.3. Chỉ đạo tổ chuyên môn thực hiện đúng kỹ thuật sinh hoạt chuyên môn theo NCBH

3.2.4. Tăng cường kiểm tra tổ chuyên môn thực hiện hoạt động NCBH

3.2.5. Thành lập nhóm chuyên gia tư vấn về hoạt động NCBH cho tổ chuyên môn

3.2.6. Xây dựng môi trường thuận lợi, tạo động lực thúc đẩy đội ngũ TTCM và GV tích cực thực hiện hoạt động NCBH

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.4. Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

3.4.1. Mục đích khảo nghiệm

3.4.2. Các bước tiến hành khảo nghiệm

3.4.3. Kết quả khảo nghiệm

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Bài học NCBH tại THPT Tử Đà

Nghiên cứu bài học, hay còn gọi là Lesson Study, là một mô hình phát triển chuyên môn cho giáo viên có nguồn gốc từ Nhật Bản. Mô hình này không chỉ là một phương pháp dự giờ thông thường mà là một chu trình hợp tác chặt chẽ, nơi giáo viên cùng nhau thiết kế, giảng dạy, quan sát và phân tích bài học. Mục tiêu cuối cùng là cải tiến liên tục việc dạy và học, tập trung sâu vào cách học sinh tiếp thu kiến thức. Tại trường THPT Tử Đà, việc áp dụng hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn được xem là giải pháp đột phá nhằm nâng cao chất lượng dạy học và thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. Quá trình này giúp biến nhà trường thành một “cộng đồng học tập”, nơi mọi thành viên, từ Ban Giám hiệu đến giáo viên, cùng nhau học hỏi và phát triển. Luận văn của tác giả Vũ Ngọc Minh (2015) đã cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc và phân tích thực tiễn sâu sắc về việc quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại ngôi trường này, khẳng định đây là con đường quan trọng để phát triển nghề nghiệp bền vững cho đội ngũ nhà giáo.

1.1. So sánh sinh hoạt chuyên môn truyền thống và theo NCBH

Sự khác biệt căn bản giữa sinh hoạt chuyên môn (SHCM) truyền thống và SHCM theo Nghiên cứu bài học (NCBH) nằm ở mục tiêu và trọng tâm. SHCM truyền thống thường tập trung vào việc đánh giá, xếp loại giờ dạy của giáo viên. Trọng tâm là hoạt động giảng dạy của người thầy, với mục đích thống nhất một cách dạy chung. Ngược lại, SHCM theo NCBH đặt trọng tâm vào hoạt động học của học sinh. Mục đích chính là tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng dạy học, giúp mỗi giáo viên tự rút ra bài học để cải tiến phương pháp của riêng mình. Trong khi mô hình cũ thường do một giáo viên thiết kế bài dạy, mô hình mới khuyến khích cả một nhóm cùng hợp tác thiết kế. Người dự giờ trong SHCM truyền thống ngồi cuối lớp và quan sát giáo viên, còn trong NCBH, người dự đứng xung quanh lớp để quan sát cách học sinh phản ứng, gặp khó khăn ở đâu và học tập như thế nào. Buổi thảo luận sau giờ dạy của NCBH mang tính xây dựng, cùng nhau tìm nguyên nhân và giải pháp, thay vì chỉ trích và xếp loại.

1.2. Các nguyên tắc cốt lõi khi triển khai nghiên cứu bài học

Để triển khai hoạt động nghiên cứu bài học hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi. Nguyên tắc đầu tiên là từ bỏ phương pháp truyền thụ một chiều, thay vào đó là tổ chức các hoạt động học tập có sự tham gia tích cực của người học. Thứ hai, bài học phải gắn liền với thực tiễn cuộc sống, sử dụng các thiết bị dạy học trực quan để tăng tính sinh động. Thứ ba, hoạt động nhóm nhỏ cần được tổ chức hiệu quả, chống lại hiện tượng ỷ lại hoặc bỏ rơi học sinh yếu kém. Thứ tư, nhiệm vụ học tập phải được thiết kế vừa sức, có tính phân hóa, tạo thách thức cho học sinh khá giỏi và hỗ trợ học sinh yếu. Cuối cùng, nguyên tắc quan trọng nhất là tạo ra một môi trường chia sẻ ý tưởng, xây dựng mối quan hệ hợp tác bình đẳng giữa giáo viênhọc sinh, cũng như giữa học sinh với nhau. Việc tuân thủ những nguyên tắc này là nền tảng cho việc đổi mới phương pháp dạy học thành công.

II. Thách thức trong quản lý hoạt động NCBH tại THPT Tử Đà

Mặc dù hoạt động nghiên cứu bài học (NCBH) mang lại nhiều lợi ích, quá trình triển khai tại trường THPT Tử Đà ban đầu đã đối mặt với không ít thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ yếu tố khách quan như cơ sở vật chất mà còn xuất phát từ các nhân tố chủ quan bên trong nhà trường. Luận văn của Vũ Ngọc Minh (2015) đã chỉ ra một thực trạng phức tạp, từ nhận thức chưa đồng đều của đội ngũ đến những hạn chế trong quy trình tổ chức. Việc quản lý hoạt động nghiên cứu bài học đòi hỏi sự thay đổi trong tư duy của cả cán bộ quản lýgiáo viên. Các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn đôi khi vẫn mang tính hình thức, đối phó, nặng về hành chính hơn là đi sâu vào chuyên môn. Nhận diện và phân tích đúng các thách thức này là bước đi đầu tiên và quan trọng nhất để đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp, nhằm đưa hoạt động NCBH đi vào thực chất và mang lại hiệu quả bền vững cho nhà trường.

2.1. Thực trạng nhận thức ban đầu của cán bộ và giáo viên

Theo khảo sát, nhận thức ban đầu về tầm quan trọng của NCBH đối với phát triển nghề nghiệp giáo viên là một rào cản. Một bộ phận giáo viên, đặc biệt là những người có thâm niên, còn tâm lý ngại thay đổi, coi đây là hoạt động gây thêm áp lực và không thực sự cần thiết. Một số buổi sinh hoạt chuyên môn vẫn đi theo lối mòn cũ, tập trung vào việc triển khai công văn, chỉ thị thay vì thảo luận chuyên sâu về bài học. Luận văn chỉ ra, một số giáo viên từ chối quyết liệt hoặc tham gia một cách miễn cưỡng. Điều này cho thấy vai trò của người Hiệu trưởng trong việc nâng cao nhận thức, tạo niềm tin và động lực cho đội ngũ là vô cùng quan trọng. Nếu không có sự đồng thuận và quyết tâm từ tập thể, việc đổi mới phương pháp dạy học thông qua NCBH sẽ khó có thể thành công.

2.2. Những hạn chế trong quy trình sinh hoạt tổ chuyên môn

Phân tích thực trạng tại trường THPT Tử Đà cho thấy một số hạn chế trong quy trình triển khai NCBH. Cụ thể, khâu "Áp dụng cho thực tế dạy học hàng ngày" được đánh giá có tần suất thực hiện thấp nhất (điểm trung bình 2.52, xếp thứ 7/7). Điều này cho thấy các bài học rút ra từ giờ dạy minh họa chưa được vận dụng một cách triệt để và thường xuyên vào thực tiễn giảng dạy của mỗi giáo viên. Bên cạnh đó, các buổi thảo luận sau dự giờ đôi khi vẫn tập trung vào người dạy hơn là phân tích quá trình học của học sinh. Việc soạn bài cá nhân sau khi thảo luận nhóm ("Sáng tạo cá nhân") cũng chưa được phát huy tối đa. Những hạn chế này cho thấy việc quản lý hoạt động nghiên cứu bài học cần một sự chỉ đạo sâu sát hơn từ Hiệu trưởngTổ trưởng chuyên môn để đảm bảo quy trình được thực hiện đúng kỹ thuật và đi vào chiều sâu.

III. Phương pháp quản lý hoạt động NCBH hiệu quả cho Hiệu trưởng

Để vượt qua các thách thức và tối ưu hóa hiệu quả của Nghiên cứu bài học, vai trò của người Hiệu trưởng là then chốt. Việc quản lý hoạt động nghiên cứu bài học không chỉ đơn thuần là triển khai theo chỉ đạo mà là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch và hệ thống đến tập thể giáo viên. Tại trường THPT Tử Đà, các biện pháp quản lý được đề xuất tập trung vào việc xây dựng một nền tảng vững chắc từ kế hoạch, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ, cho đến chỉ đạo và giám sát thực hiện. Một hệ thống quản lý bài bản sẽ giúp hoạt động sinh hoạt tổ chuyên môn trở nên thực chất, tạo ra một chu trình cải tiến liên tục, trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng dạy học và thúc đẩy văn hóa học hỏi trong toàn trường. Các biện pháp này đòi hỏi người quản lý phải vừa là nhà hoạch định chiến lược, vừa là người đồng hành, hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên.

3.1. Xây dựng kế hoạch và quy chế sinh hoạt chuyên môn chi tiết

Bước đầu tiên và quan trọng nhất trong quản lý hoạt động nghiên cứu bài học là xây dựng một kế hoạch tổng thể, chi tiết. Kế hoạch này phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, lộ trình thực hiện và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chuyên môn và cá nhân. Theo đề tài nghiên cứu, Hiệu trưởng cần chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH của tổ dựa trên tình hình thực tế, có ưu tiên các vấn đề trọng tâm trong năm học. Kế hoạch cần dự kiến kết quả đạt được trong từng giai đoạn. Song song đó, việc ban hành quy chế sinh hoạt chuyên môn theo NCBH là cần thiết để tạo ra một khung pháp lý, quy định rõ ràng về tần suất, quy trình và trách nhiệm của các thành viên. Một kế hoạch bài bản sẽ là kim chỉ nam, giúp hoạt động đi đúng hướng và dễ dàng cho công tác kiểm tra, đánh giá sau này.

3.2. Bồi dưỡng năng lực NCBH cho đội ngũ giáo viên

Năng lực của giáo viên là yếu tố quyết định sự thành công của NCBH. Do đó, công tác bồi dưỡng cần được ưu tiên hàng đầu. Người Hiệu trưởng cần tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu về lý thuyết và kỹ thuật của NCBH, có thể mời chuyên gia hoặc tận dụng đội ngũ giáo viên cốt cán. Luận văn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức các buổi làm mẫu, nơi một tổ chuyên môn và một giáo viên giàu kinh nghiệm thực hiện toàn bộ quy trình NCBH cho toàn trường quan sát và học hỏi. Qua đó, giáo viên sẽ hiểu đúng về cách quan sát học sinh, cách phân tích bài học và cách chia sẻ ý kiến một cách xây dựng. Việc bồi dưỡng liên tục sẽ giúp giáo viên từ bỏ thói quen cũ, hình thành kỹ năng làm việc nhóm và tư duy phản biện, từ đó nâng cao năng lực phát triển nghề nghiệp của bản thân.

3.3. Tăng cường chỉ đạo kiểm tra và đánh giá tổ chuyên môn

Quản lý hiệu quả đòi hỏi sự giám sát và điều chỉnh kịp thời. Hiệu trưởng cần thường xuyên chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch NCBH của các tổ chuyên môn. Hoạt động kiểm tra không chỉ nhằm đánh giá mà còn để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho giáo viên. Nội dung kiểm tra, đánh giá cần tập trung vào chất lượng của các buổi thảo luận, khả năng phát hiện vấn đề của học sinh, và mức độ áp dụng các bài học kinh nghiệm vào thực tiễn. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ NCBH của các tổ cần dựa trên các tiêu chí rõ ràng, chẳng hạn như mức độ cải thiện kết quả học tập của học sinh và sự tiến bộ trong kỹ năng giảng dạy của giáo viên. Hoạt động này giúp đảm bảo sinh hoạt chuyên môn không đi chệch hướng và mang lại giá trị thực tiễn.

IV. Bí quyết tạo động lực thúc đẩy hoạt động NCBH bền vững

Một trong những nhân tố quyết định sự thành công lâu dài của hoạt động nghiên cứu bài học chính là động lực của đội ngũ. Việc triển khai NCBH không thể chỉ dựa trên mệnh lệnh hành chính mà cần được thúc đẩy từ sự tự nguyện, nhiệt tình và sáng tạo của mỗi giáo viên. Do đó, quản lý hoạt động nghiên cứu bài học tại trường THPT Tử Đà đặc biệt chú trọng đến các biện pháp tạo động lực. Người Hiệu trưởng đóng vai trò kiến tạo một môi trường làm việc tích cực, nơi sự nỗ lực được ghi nhận và sự hợp tác được đề cao. Xây dựng một văn hóa nhà trường thân thiện, cởi mở và hỗ trợ lẫn nhau là nền tảng để giáo viên cảm thấy an toàn khi thử nghiệm những phương pháp mới, dám chia sẻ thất bại và cùng nhau học hỏi. Các biện pháp này giúp biến áp lực thành động lực, thúc đẩy hoạt động NCBH phát triển một cách tự nhiên và bền vững.

4.1. Xây dựng môi trường làm việc hợp tác chia sẻ chuyên môn

Môi trường làm việc là yếu tố then chốt. Hiệu trưởng cần xây dựng một văn hóa nhà trường nơi sự hợp tác và chia sẻ được khuyến khích. Điều này thể hiện qua việc tạo dựng mối quan hệ tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau giữa cán bộ quản lýgiáo viên, cũng như giữa các giáo viên với nhau. Các buổi sinh hoạt chuyên môn theo NCBH chính là cơ hội tuyệt vời để xây dựng mối quan hệ này, nơi mọi người cùng làm việc vì mục tiêu chung là sự tiến bộ của học sinh. Thay vì một môi trường cạnh tranh, nhà trường cần trở thành một "cộng đồng học tập", nơi mỗi cá nhân sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp và học hỏi lẫn nhau. Khi giáo viên cảm nhận được sự hỗ trợ và an toàn, họ sẽ cởi mở hơn trong việc chia sẻ khó khăn và ý tưởng sáng tạo, từ đó thúc đẩy chất lượng của hoạt động NCBH.

4.2. Chính sách khen thưởng và ghi nhận nỗ lực của giáo viên

Để duy trì động lực, sự ghi nhận và khen thưởng kịp thời là vô cùng cần thiết. Hiệu trưởng trường THPT Tử Đà cần xây dựng chính sách động viên, khen thưởng công bằng, khách quan đối với các cá nhân và tổ chuyên môn tích cực, có nhiều đóng góp hiệu quả cho hoạt động NCBH. Khen thưởng không nhất thiết chỉ là vật chất, mà còn có thể là sự ghi nhận, biểu dương trước hội đồng sư phạm. Việc tôn vinh những giáo viên đầu đàn, những người có sáng kiến cải tiến trong giảng dạy sẽ tạo ra tấm gương và khuyến khích các thành viên khác noi theo. Đồng thời, cần có cơ chế đãi ngộ phù hợp, tương xứng với sự cống hiến của đội ngũ Tổ trưởng chuyên môngiáo viên. Một chính sách đãi ngộ hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng, kích thích sự nỗ lực và cống hiến, góp phần vào thành công chung của nhà trường trong việc nâng cao chất lượng dạy học.

V. Kết quả thực tiễn từ quản lý NCBH tại trường THPT Tử Đà

Việc áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động nghiên cứu bài học một cách bài bản đã mang lại những kết quả tích cực và có thể đo lường được tại trường THPT Tử Đà. Những thay đổi không chỉ thể hiện qua các con số trong khảo sát mà còn ở sự chuyển biến trong không khí chuyên môn của nhà trường. Từ chỗ còn e ngại, miễn cưỡng, nhiều giáo viên đã trở nên tích cực, chủ động hơn trong các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn. Luận văn của Vũ Ngọc Minh (2015) cung cấp những bằng chứng rõ nét về sự thành công bước đầu của mô hình. Kết quả này khẳng định rằng khi được quản lý đúng hướng, Nghiên cứu bài học thực sự là một công cụ mạnh mẽ để phát triển nghề nghiệp giáo viênđổi mới phương pháp dạy học. Phân tích các kết quả thực tiễn này giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng mô hình trong tương lai.

5.1. Phân tích chuyển biến trong nhận thức và hành động

Dữ liệu khảo sát cho thấy một sự chuyển biến rõ rệt. Về nhận thức, 100% cán bộ quản lý trong trường và đa số giáo viên đều đánh giá NCBH là hoạt động "rất quan trọng" hoặc "quan trọng" đối với phát triển nghề nghiệp. Về hành động, các khâu trong quy trình NCBH đều được thực hiện ở mức độ "thường xuyên" hoặc "rất thường xuyên". Cụ thể, nội dung "Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch NCBH" và "Tổ chuyên môn thảo luận mục tiêu, nội dung bài học" được đánh giá cao nhất. Điều này chứng tỏ công tác chỉ đạo, lập kế hoạch của Ban Giám hiệuTổ trưởng chuyên môn đã đi vào nền nếp và phát huy hiệu quả. Sự thay đổi từ nhận thức đến hành động là minh chứng cho thấy các biện pháp quản lý, đặc biệt là công tác tư tưởng và bồi dưỡng chuyên môn, đã tác động tích cực đến đội ngũ nhà giáo tại trường THPT Tử Đà.

5.2. Đánh giá hiệu quả các bước triển khai hoạt động NCBH

Kết quả thực hiện các bước trong quy trình NCBH tại trường THPT Tử Đà cho thấy sự tiến bộ đáng kể. Theo Bảng 2.7 trong luận văn, các hoạt động như xây dựng kế hoạch, nghiên cứu và thảo luận bài dạy đều đạt điểm trung bình khá cao. Điều này cho thấy giai đoạn chuẩn bị cho một buổi sinh hoạt chuyên môn theo NCBH được thực hiện rất tốt. Các buổi dạy minh họa và thảo luận sau dự giờ cũng được tổ chức thường xuyên, tạo ra một diễn đàn trao đổi chuyên môn sôi nổi. Mặc dù khâu áp dụng vào thực tế hàng ngày vẫn còn là một thách thức cần cải thiện, nhưng nhìn chung, quy trình NCBH đã vận hành một cách trơn tru. Những thành công này là kết quả trực tiếp của một quá trình quản lý hoạt động nghiên cứu bài học chặt chẽ, có sự chỉ đạo sát sao của Hiệu trưởng và sự nỗ lực của toàn thể đội ngũ.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động nghiên cứu bài học trong sinh hoạt tổ chuyên môn ở trường trung học phổ thông tử đà huyện phù ninh tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong những nghiên cứu gần đây, đã có những tranh luận rằng việc học tập một cách chuyên nghiệp và hiệu quả sẽ tiếp tục duy trì trong một thời gian dài, đang thúc đẩy việc học tập, thích hợp nhất đối với những hệ thống trường phổ thông. Điều này đòi hỏi sự kiểm tra của giáo viên diễn ra hàng ngày. Để phát triển những hệ thống như thế, sẽ càng quan trọng hơn cho những người giảng dạy trong việc cùng nhau quan sát và phản ánh những bài dạy tại lớp học.

Nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao từ thế kỷ XIX. Theo truyền thống, có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kỹ năng sư phạm bởi xem xét lại phương pháp dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên. Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút những học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật. Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kỳ bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế.

Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ bởi hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn. Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều. Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập.

Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho các nhóm học. Trong nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh. Nghiên cứu bài học tại Hoa Kỳ: Xem xét những điểm số thấp của học sinh Hoa Kỳ trong những xu hướng nghiên cứu Toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học 6 download by : skknchat@gmail.com sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kỳ. Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi được chú ý trong cách học cho những đứa trẻ.

Thêm vào đó, họ cũng tìm ra được rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng hơn. Trong những hoàn cảnh đó, kết hợp với sự kêu gọi phát triển chuyên môn, thứ mà lấy nền tảng từ trường học nhiều hơn trong thực tại hàng ngày, những học giả đã giới thiệu nghiên cứu bài học như một phương pháp phát triển chuyên môn; tại Nhật đã phản đối những hoạt động phát triển chuyên môn ngắn hạn thông thường và khẳng định tầm quan trọng của một phương pháp được duy trì và luyện tập. Nghiên cứu bài học được miêu tả như một quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) Thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) Xem xét lại kế hoạch đã đề ra (không bắt buộc); (4) Giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) Chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập. Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục.

Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ; Vương quốc Anh và Úc. NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình gồm các bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tuỳ chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tuỳ chọn) và (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học. Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hoá trường học.

Nghiên cứu bài học đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Phần lớn các hoạt động giới thiệu NCBH ở các nước nói trên hướng tới những nhóm giáo viên, chỉ một vài môn học trong trường - đặc biệt là toán học. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như Indonesia và Việt Nam, toàn trường đã được tham gia ngay từ đầu của quá trình NCBH. 7 download by : skknchat@gmail.com Dự án ban đầu được lên kế hoạch và thực hiện với mục tiêu thúc đẩy việc trẻ em làm trung tâm giáo dục trong các trường học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện dự án này từ tháng 10 năm 2004 và tháng 8 năm 2007, với 5 trường, trong nghiên cứu này đóng vai trò là các trường thí điểm. Đội ngũ tư vấn tương tác với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang với tư cách là tổ chức đối tác. Nhóm đối tác trong các Sở GD&ĐT được gọi là “Nhóm làm việc”, bao gồm các lãnh đạo từ Sở GD&ĐT, các Phòng Giáo dục và Đào tạo của các huyện và các giáo viên giàu kinh nghiệm và Ban giám hiệu các trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT và JICA cùng nhau quyết định giới thiệu các hoạt động đổi mới trường học từ tháng 6 năm 2006 bao gồm một trường thí điểm trong mỗi huyện.

Thông tin cơ bản về các trường lựa chọn Số Số Số Trước khi kết thúc Sau khi kết thúc Trường Huyện học giáo lớp dự án dự án sinh viên Giáo viên từ chối quyết liệt và tham gia Giáo viên dường như mất miễn cưỡng SHCM. sự quan tâm mạnh mẽ. Các Thành phố A 1125 31 47 Tuy nhiên, trước khi thảo luận tập trung nhiều Bắc Giang kết thúc dự án, giáo hơn vào việc dạy và giáo viên bắt đầu tham gia viên tích cực hơn. Có một số sự miễn Giáo viên điều chỉnh các cưỡng về SHCM trong buổi SHCM theo điều kiện giáo viên.

Tuy nhiên, của mình. Họ hình thành B Việt Yên 494 19 25 sau một thời gian, họ các nhóm nhỏ để SHCM ở bắt đầu cho thấy sự cấp trường và thực hiện 50 quan tâm mạnh mẽ buổi SHCM mỗi năm. Nhà hơn trong SHCM trường thay đổi BGH 2 lần. Giáo viên từ chối Giáo viên tiếp tục tham gia quyết liệt và tham gia Thành phố tích cực trong SHCM.

Họ miễn cưỡng SHCM. Bắc Giang tiếp tục thảo luận về cách Tuy nhiên trước khi C (trước là 880 25 47 thức học sinh học và làm kết thúc dự án, quản lý Yên thế nào đẩy mạnh hoạt động và giáo viên thể hiện Dũng) học. Trường trải qua một sự là đã tăng hiểu biết về thay đổi lãnh đạo. đổi mới SHCM Giáo viên quan tâm Do sự khác biệt trong ý đến nâng cao chất kiến về thực hành giữa giáo lượng thực hành của viên và chính quyền địa D Lục Nam 742 24 43 họ.

Trong buổi góp ý phương, đã có sự hiểu lầm đã có cuộc thảo luận giữa các giáo viên và quan nhóm sôi nổi tại thời tâm của họ dường như 8 download by : skknchat@gmail.com Số Số Số Trước khi kết thúc Sau khi kết thúc Trường Huyện học giáo lớp dự án dự án sinh viên điểm hội nghị trường giảm. Nhà trường đã phải học. trải qua một sự thay đổi trong lãnh đạo. Hiệu trưởng mới không ưu tiên hoạt động đổi mới giáo dục.

Lúc đầu, giáo viên đều rất quan tâm đến SHCM, Hiệu trưởng thể Giáo viên dường như mất đi hiện sự lãnh đạo mạnh sự quan tâm của họ. Tuy nhiên Hiệu E Hiệp Hoà 556 15 27 cuộc thảo luận tập trung trưởng đã được thay thế vào hoạt động dạy và giáo bằng một người mới viên. dường như ít để ý và quan tâm ít hơn trong các hoạt động cải cách. Hiệu trưởng đổi mới nhà trường thông qua SHCM.

Trường được xây dựng mới khi ông được bổ nhiệm. Trường được xếp hạng cuối F Yên Dũng 222 10 15 Không tham gia trong số 25 trường trong huyện. Nhưng sau 2 năm, thứ hạng của trường đã tăng lên thứ 6. Giáo viên đều rất hợp tác với nhau.

Hiệu trưởng đổi mới trường thông qua SHCM. Khi Hiệu trưởng thực hiện điều này, giáo viên không thực sự gắn bó với nhau. Trường được xếp hạng dưới đáy G Lục Nam 337 14 23 Không tham gia trong 38 trường của huyện, nhưng sau 2 năm, thứ hạng của họ đã tăng lên đến thứ 7. Tuy nhiên mối quan hệ giữa giáo viên vẫn cần phải được cải thiện.

Hiệu trưởng chuyển sang từ trường C. Trường được xếp hạng ở gần cuối trong số 26 trường của Yên Dũng. Nhờ H Bắc Giang 588 23 39 Không tham gia niềm tin mạnh mẽ của cô vào SHCM, hiệu trưởng sử dụng SHCM để đổi mới. Sau một năm, thứ hạng của trường tăng lên thứ 5.

9 download by : skknchat@gmail.com Sở GD&ĐT giới thiệu các trường có thể tiến hành thí điểm, các thành viên trong nhóm tư vấn JICA đã đến thăm các trường này và cả hai cùng nhau thảo luận để quyết định chọn các trường thí điểm. Kết quả lựa chọn đã được báo cáo với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ sẵn sàng của các trường để thực hiện đổi mới và dễ dàng truy cập từ các trường. Tất cả các trường thí điểm đều là các trường hàng đầu của huyện và là nơi thường xuyên diễn ra các đợt tập huấn giáo viên của huyện [15].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ