Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC TRONG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN Ở TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong những nghiên cứu gần đây, đã có những tranh luận rằng việc học tập một cách chuyên nghiệp và hiệu quả sẽ tiếp tục duy trì trong một thời gian dài, đang thúc đẩy việc học tập, thích hợp nhất đối với những hệ thống trường phổ thông. Điều này đòi hỏi sự kiểm tra của giáo viên diễn ra hàng ngày. Để phát triển những hệ thống như thế, sẽ càng quan trọng hơn cho những người giảng dạy trong việc cùng nhau quan sát và phản ánh những bài dạy tại lớp học.
Nghiên cứu bài học được phát triển tại Nhật Bản như một chỉ dẫn cho phương pháp dạy nâng cao từ thế kỷ XIX. Theo truyền thống, có hai loại nghiên cứu bài học: phương pháp nghiên cứu từ chung tới riêng (nó phổ biến những thông tin giáo dục và phương pháp nền tảng, nó cải cách những kỹ năng sư phạm bởi xem xét lại phương pháp dạy) và học thông qua những thảo luận và quan sát của giáo viên. Ngoài ra, hưởng ứng những vấn đề quan trọng mà xuất hiện trong các trường học tại Nhật Bản trong cuối năm 1990, Sato và những đồng nghiệp phát triển nghiên cứu bài học cho cộng đồng học, một phương pháp để nghiên cứu bài học là thu hút những học viên và những nhà nghiên cứu ở Nhật. Một nhân tố làm gián đoạn các lớp học là thời điểm cuối thời kỳ bùng nổ kinh tế và bắt đầu sự suy thoái kinh tế.
Cho tới khi trẻ con mong muốn học hành chăm chỉ bởi hy vọng rằng giáo dục tốt hơn sẽ mang đến những người lao động tốt hơn. Tuy nhiên suy thoái kinh tế đã dẫn đến nhiều nhân viên bị sa thải, từ đó rất nhiều trẻ em mất đi niềm yêu thích với học hành. Nhiều vấn nạn xảy ra: học sinh nói chuyện riêng hoặc ngủ gật thường xuyên diễn ra trong lớp học của những giáo viên độc đoán, những bài giảng của họ dựa trên những bài giảng truyền thống, một chiều. Sato tuyên bố rằng vấn đề nghiêm trọng hơn là đa số học sinh Nhật Bản đánh mất đi niềm yêu thích trong học tập.
Để thay đổi hoàn cảnh đó, Sato và những đồng nghiệp giới thiệu nghiên cứu bài học cho các nhóm học. Trong nghiên cứu bài học cho nhóm học thì không chỉ có vài bộ môn mà tất cả các giáo viên cần tham gia và họ cần tập trung nhiều hơn việc quan sát và phản ánh. Nghiên cứu bài học tại Hoa Kỳ: Xem xét những điểm số thấp của học sinh Hoa Kỳ trong những xu hướng nghiên cứu Toán học và khoa học quốc tế so sánh với những điểm số cao của học 6 download by : skknchat@gmail.com sinh Đông Á, Hiebert and Stigler (2000) đã đề cập tới vấn đề liên quan tới sự rèn luyện sư phạm ở Hoa Kỳ. Họ khẳng định rằng, mặc dù đã có những hoạt động nhóm và giảng viên đều tin tưởng vào hướng đi theo xu hướng xã hội của giáo dục, sự thật thì không nhiều thay đổi được chú ý trong cách học cho những đứa trẻ.
Thêm vào đó, họ cũng tìm ra được rất ít thay đổi trong việc hướng học sinh đến những kiến thức toán học sâu rộng hơn. Trong những hoàn cảnh đó, kết hợp với sự kêu gọi phát triển chuyên môn, thứ mà lấy nền tảng từ trường học nhiều hơn trong thực tại hàng ngày, những học giả đã giới thiệu nghiên cứu bài học như một phương pháp phát triển chuyên môn; tại Nhật đã phản đối những hoạt động phát triển chuyên môn ngắn hạn thông thường và khẳng định tầm quan trọng của một phương pháp được duy trì và luyện tập. Nghiên cứu bài học được miêu tả như một quá trình bao gồm những bước sau: (1) Cùng nhau lên kế hoạch nghiên cứu bài học; (2) Thực hiện nghiên cứu bài học, thảo luận về nghiên cứu bài học; (3) Xem xét lại kế hoạch đã đề ra (không bắt buộc); (4) Giảng dạy theo bài học mẫu (không bắt buộc); (5) Chia sẻ những đánh giá về mẫu bài học ôn tập. Sự phát triển chuyên môn của giáo viên là một hoạt động đại diện của đổi mới giáo dục.
Gần đây, trong lĩnh vực phát triển chuyên môn, NCBH đã thu hút được sự quan tâm của các nhà giáo dục và học giả trên toàn thế giới, trong đó có Hoa Kỳ; Vương quốc Anh và Úc. NCBH là một hoạt động phát triển chuyên môn có nguồn gốc ở Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Nó đã được mô tả trong nhiều tài liệu quốc tế là một quá trình gồm các bước sau: (1) Hợp tác lập kế hoạch một bài học, (2) Quan sát việc thực hiện bài học, (3) Thảo luận về bài học, (4) Sửa đổi kế hoạch bài học (tuỳ chọn), (5) Dạy các phiên bản sửa đổi của bài học (tuỳ chọn) và (6) Chia sẻ ý kiến và quan điểm về các phiên bản sửa đổi của bài học. Nhiều nhà giáo dục và nhà nghiên cứu đã quan tâm đến NCBH nhận ra rằng nó dần dần sẽ giúp thay đổi thực tiễn giảng dạy của giáo viên, học tập của trẻ em và văn hoá trường học.
Nghiên cứu bài học đã được giới thiệu ở nhiều nước châu Á như Brunei, Inđônêxia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Phần lớn các hoạt động giới thiệu NCBH ở các nước nói trên hướng tới những nhóm giáo viên, chỉ một vài môn học trong trường - đặc biệt là toán học. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như Indonesia và Việt Nam, toàn trường đã được tham gia ngay từ đầu của quá trình NCBH. 7 download by : skknchat@gmail.com Dự án ban đầu được lên kế hoạch và thực hiện với mục tiêu thúc đẩy việc trẻ em làm trung tâm giáo dục trong các trường học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện dự án này từ tháng 10 năm 2004 và tháng 8 năm 2007, với 5 trường, trong nghiên cứu này đóng vai trò là các trường thí điểm. Đội ngũ tư vấn tương tác với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Giang với tư cách là tổ chức đối tác. Nhóm đối tác trong các Sở GD&ĐT được gọi là “Nhóm làm việc”, bao gồm các lãnh đạo từ Sở GD&ĐT, các Phòng Giáo dục và Đào tạo của các huyện và các giáo viên giàu kinh nghiệm và Ban giám hiệu các trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở GD&ĐT và JICA cùng nhau quyết định giới thiệu các hoạt động đổi mới trường học từ tháng 6 năm 2006 bao gồm một trường thí điểm trong mỗi huyện.
Thông tin cơ bản về các trường lựa chọn Số Số Số Trước khi kết thúc Sau khi kết thúc Trường Huyện học giáo lớp dự án dự án sinh viên Giáo viên từ chối quyết liệt và tham gia Giáo viên dường như mất miễn cưỡng SHCM. sự quan tâm mạnh mẽ. Các Thành phố A 1125 31 47 Tuy nhiên, trước khi thảo luận tập trung nhiều Bắc Giang kết thúc dự án, giáo hơn vào việc dạy và giáo viên bắt đầu tham gia viên tích cực hơn. Có một số sự miễn Giáo viên điều chỉnh các cưỡng về SHCM trong buổi SHCM theo điều kiện giáo viên.
Tuy nhiên, của mình. Họ hình thành B Việt Yên 494 19 25 sau một thời gian, họ các nhóm nhỏ để SHCM ở bắt đầu cho thấy sự cấp trường và thực hiện 50 quan tâm mạnh mẽ buổi SHCM mỗi năm. Nhà hơn trong SHCM trường thay đổi BGH 2 lần. Giáo viên từ chối Giáo viên tiếp tục tham gia quyết liệt và tham gia Thành phố tích cực trong SHCM.
Họ miễn cưỡng SHCM. Bắc Giang tiếp tục thảo luận về cách Tuy nhiên trước khi C (trước là 880 25 47 thức học sinh học và làm kết thúc dự án, quản lý Yên thế nào đẩy mạnh hoạt động và giáo viên thể hiện Dũng) học. Trường trải qua một sự là đã tăng hiểu biết về thay đổi lãnh đạo. đổi mới SHCM Giáo viên quan tâm Do sự khác biệt trong ý đến nâng cao chất kiến về thực hành giữa giáo lượng thực hành của viên và chính quyền địa D Lục Nam 742 24 43 họ.
Trong buổi góp ý phương, đã có sự hiểu lầm đã có cuộc thảo luận giữa các giáo viên và quan nhóm sôi nổi tại thời tâm của họ dường như 8 download by : skknchat@gmail.com Số Số Số Trước khi kết thúc Sau khi kết thúc Trường Huyện học giáo lớp dự án dự án sinh viên điểm hội nghị trường giảm. Nhà trường đã phải học. trải qua một sự thay đổi trong lãnh đạo. Hiệu trưởng mới không ưu tiên hoạt động đổi mới giáo dục.
Lúc đầu, giáo viên đều rất quan tâm đến SHCM, Hiệu trưởng thể Giáo viên dường như mất đi hiện sự lãnh đạo mạnh sự quan tâm của họ. Tuy nhiên Hiệu E Hiệp Hoà 556 15 27 cuộc thảo luận tập trung trưởng đã được thay thế vào hoạt động dạy và giáo bằng một người mới viên. dường như ít để ý và quan tâm ít hơn trong các hoạt động cải cách. Hiệu trưởng đổi mới nhà trường thông qua SHCM.
Trường được xây dựng mới khi ông được bổ nhiệm. Trường được xếp hạng cuối F Yên Dũng 222 10 15 Không tham gia trong số 25 trường trong huyện. Nhưng sau 2 năm, thứ hạng của trường đã tăng lên thứ 6. Giáo viên đều rất hợp tác với nhau.
Hiệu trưởng đổi mới trường thông qua SHCM. Khi Hiệu trưởng thực hiện điều này, giáo viên không thực sự gắn bó với nhau. Trường được xếp hạng dưới đáy G Lục Nam 337 14 23 Không tham gia trong 38 trường của huyện, nhưng sau 2 năm, thứ hạng của họ đã tăng lên đến thứ 7. Tuy nhiên mối quan hệ giữa giáo viên vẫn cần phải được cải thiện.
Hiệu trưởng chuyển sang từ trường C. Trường được xếp hạng ở gần cuối trong số 26 trường của Yên Dũng. Nhờ H Bắc Giang 588 23 39 Không tham gia niềm tin mạnh mẽ của cô vào SHCM, hiệu trưởng sử dụng SHCM để đổi mới. Sau một năm, thứ hạng của trường tăng lên thứ 5.
9 download by : skknchat@gmail.com Sở GD&ĐT giới thiệu các trường có thể tiến hành thí điểm, các thành viên trong nhóm tư vấn JICA đã đến thăm các trường này và cả hai cùng nhau thảo luận để quyết định chọn các trường thí điểm. Kết quả lựa chọn đã được báo cáo với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tiêu chí lựa chọn dựa trên mức độ sẵn sàng của các trường để thực hiện đổi mới và dễ dàng truy cập từ các trường. Tất cả các trường thí điểm đều là các trường hàng đầu của huyện và là nơi thường xuyên diễn ra các đợt tập huấn giáo viên của huyện [15].