CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG XÃ HỘI HÓA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về hoạt động giáo dục trải nghiệm Luận án tiến sỹ: “Leadership and the boyscouts of America’s high adventure program” của tác giả Robin D. Lizzo thực hiện năm 2013 tại đại học Texas A&M đã cung cấp nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng việc tổ chức các chương trình giải trí có thể tạo ra một đóng góp lớn cho cuộc sống của thanh thiếu niên.
Dựa vào các mục tiêu của chương trình này, tác giả đã đưa ra giả thuyết rằng các phẩm chất lãnh đạo sẽ tăng lên sau khi thanh thiếu niên tham gia vào chương trình. Nghiên cứu đi thêm một bước nữa để khám phá những đặc điểm chương trình Boyscouts of America high adventure program có khả năng thúc đẩy hoặc giảm bớt sự phát triển khả năng lãnh đạo, tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập hình thức quản lý thanh thiếu niên khi tham gia các HĐTN (dẫn theo [23]). Luận án tiến sỹ: “The relationship between extracurricular activities and sense of school belonging among Hispanic students” của tác giả Michael Alan Farrell thực hiện năm 2008 tại đại học Dallas, đã chỉ ra rằng: Hoạt động ngoại khoá tạo ra một cộng đồng văn hoá tích cực: Là một thành viên của cộng đồng sẽ mang nét văn hóa của cộng đồng đó. Thông qua việc tham gia các hoạt động ngoại khóa, các thành viên sẽ hình thành nên ý thức chấp hành tốt, qua đó có những kết quả tích cực.
Tuy nhiên luận án mới chỉ tập trung phân tích ảnh hưởng của các hoạt động ngoại khóa đối với sự tham gia của HS, giải thích các phát hiện, đề xuất cho các nhà giáo dục mà chưa đề xuất các hình thức quản lý HS tham gia các hoạt động ngoại khóa (dẫn theo [23]). Còn ở các quốc gia, khu vực kém phát triển hơn, chương trình giáo dục trải nghiệm chủ yếu tập trung vào giáo dục các kỹ năng chăm sóc sức khỏe, phòng chống tai nạn thương tích coi việc phát triển chương trình giáo dục trải nghiệm thật 7 sự là biện pháp để rút ngắn khoảng cách về chất lượng nguồn nhân lực và đã đưa chương trình giáo dục trải nghiệm vào nhà trường với tư cách là một chương trình môn học riêng biệt. Gần đây, trong cuốn “Học tập trải nghiệm – kinh nghiệm là tài nguyên của việc học và sự phát triển”, David Kolb đưa ra mô hình với quy trình sau: (1) Lựa chọn nội dung bằng cách chọn lọc thật kỹ những vấn đề định đưa vào trên cơ sở các mục tiêu đã thiết lập; (2) Sắp xếp các nội dung từ đơn giản đến phức tạp; (3) Lựa chọn các trải nghiệm phù hợp với nội dung dựa trên những hiểu biết, kinh nghiệm của người học; (4) Bắt đầu từ kinh nghiệm cụ thể, đến quan sát, tái hiện và sau đó hình thành những khái niệm trừu tượng và khái quát, tiến tới việc thử nghiệm những khái niệm mới trong những hoàn cảnh mới. Mô hình học tập trải nghiệm của Kolb hiện được các chuyên gia giáo dục công nhận và áp dụng rộng rãi.
Những năm đầu Thế kỉ XXI, HĐTN được nhiều nhà khoa học giáo dục nghiên cứu và quan tâm trong các chương trình phát triển người học, tích hợp liên môn. Tác giả tiên phong trong lĩnh vực này là L. Tác giả đã đưa vào chương trình GD trong nhà trường về công tác trải nghiệm và ứng dụng vào thực tế để học sinh có thể nhận biết và hiểu rõ vấn đề hơn. Bên cạnh đó học sinh được tham gia và bày tỏ quan điểm về từng nội dung chủ đề đang nghiên cứu.
Từ đó bộc lộ được năng lực cá nhân và phát huy điểm mạnh bản thân để định hướng được nghề nghiệp trong tương lai. Tạp chí Quản lí giáo dục, 9, 90-96. Đây chính là các công trình nghiên cứu mang tính định hướng phát triển cho cả nước và từng địa phương về vấn đề nhân lực, nói cách khác, để chọn được một nghề, học sinh phải trả lời được 3 câu hỏi cơ bản: (1) Tôi thích nghề gì? (2) Tôi có khả năng làm nghề gì? (3) Xã hội có cần nghề đó hay không? Câu hỏi thứ ba chính là yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐTN, HN ở trường trung học cơ sở: nếu giáo dục hướng nghiệp chỉ mới dừng lại ở việc giúp học sinh tìm hiểu các ngành nghề mà địa phương chưa cần trong hiện tại và tương lai, tức là giáo dục hướng nghiệp của nhà trường chưa gắn kết với định hướng cơ cấu ngành nghề được trình bày trong chiến lược phát triển nhân lực của địa phương, 8 thì chất lượng của HĐTN, HN chưa được đảm bảo do nội dung chưa phù hợp, hay nói cách khác, quản lý HĐTN, HN chưa đạt được hiệu quả mong muốn. Tóm lại, nhà trường không nên định hướng cho học sinh những ngành nghề mà địa phương không cần mà ngược lại, cần bám sát chiến lược và quy hoạch nhân lực của địa phương và đất nước trong từng thời kỳ nhất định.
Bên cạnh chiến lược và quy hoạch nhân lực của địa phương, còn một lĩnh vực khác ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả của HĐTN, HN nói riêng và quản lý HĐTN, HN ở trường trung học cơ sở nói chung, đó là các dự báo nhu cầu nhân lực của địa phương và cả nước. Dự báo, số liệu dự báo ngành nghề: Vấn đề quan trọng cần lưu ý, đó là tính cập nhật và tính giá trị của các thông tin dự báo, các số liệu dự báo ngành nghề chính là những thông số giúp học sinh chọn lựa hướng đi thích hợp hơn. Tuy nhiên, các số liệu này phải có giá trị sử dụng ít nhất trong vòng 10 năm. Ngược lại, nếu dự báo có giá trị sử dụng quá ngắn (dưới 5 năm) thì sau khi được đào tạo xong ở ngành nghề A thì xã hội đã chuyển qua có nhu cầu đối với ngành nghề B, khi đó, học sinh sẽ khó tìm được việc làm hoặc nếu có tìm được việc làm thì cũng khó thăng tiến trong nghề.
Ngoài ra, danh mục các ngành nghề mới xuất hiện và những ngành nghề đang mất đi cũng cần được cập nhật thường xuyên và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, đặc biệt là khu vực trường học. Những yêu cầu mới về kỹ năng nghề nghiệp của thị trường lao động cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, từ đó HĐTN, HN cũng như quản lý HĐTN, HN cũng bị ảnh hưởng, đòi hỏi phải được đổi mới liên tục và thường xuyên, giúp học sinh hiểu được những yêu cầu mới của thị trường lao động, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục trải nghiệm cho học sinh Theo tác giả Tyler, người chỉ ra trong công tác quản lý HĐGDTN cần gắn với mục tiêu và nội dung mà chương trình HĐTN được xây dựng cho người học. Theo đó nội dung của HĐTN cần được gắn với mục tiêu đề ra, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch và các phương pháp cần làm, chỉ ra được đánh giá hiệu quả trong công tác HĐGDTN.
Trong mô hình của Tyler, lấy HS làm trung tâm trong việc quản lý HDGDTN phù hợp với lứa tuổi và tâm lý người học, tạo được sự thích thú 9 đối với người học. Để xây dựng lên mục tiêu và nội dung chương trình trong HĐTN, các CBQL nhà trường cần nâng cao sự nhận thức và thái độ của toàn bộ lực lượng trong nhà trường là bước tiên phong. Phải để cho các GV và HS hiểu sâu sắc về HĐGDTN hiện nay, cần nắm bắt tốt yêu cầu đổi mới giáo dục và vai trò ý nghĩa của HĐGDTN. Khác với mô hình diễn dịch của Tyler, tác giả Taba đề xuất một phương pháp quy nạp trong xây dựng chương trình trải nghiệm, theo đó khởi đầu từ việc GV xây dựng HĐTN nhỏ cụ thể cho lớp tiêu biểu được chọn làm mẫu.
Từ việc tự lên kế hoạch đến xây dựng nội dung và lựa chọn các phương pháp, hình thức đưa vào HĐGCTN cho đến khâu kiểm tra đánh giá. Trong quá trình kiểm tra đánh giá nếu phát hiện ra điểm chưa phù hợp thì tiếp tục cải tiến và sửa đổi các nội dung thử nghiệm trong HĐGDTN. Từ đó xây dựng lại công tác quản lý, thiết lập các nội dung mới đã được cải tiến cho phù hợp. Oliva (2006) trong công trình nghiên cứu “Phát triển chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp” đã đề xuất mô hình của một quá trình toàn diện, từng bước cụ thể.
Theo đó công tác quản lý bắt đầu từ việc hoạch định các kế hoạch HĐGDTN phù hợp với điều kiện sẵn có và tiềm lực của nhà trường. Trong công trình nghiên cứu của ông, nhà quản lý phải tìm hiểu được nhu cầu người học, nhà quản lý phải tìm hiểu phân tích được nhu cầu của cộng đồng dân cư tại địa phương trong công tác phối kết hợp để triển khai HĐGDTN. Từ nhu cầu đó, CBQL nhà trường cần phân tích lên kế hoạch để triển khai HĐGDTN, đưa nội dung trải nghiệm thiết thực vào bài học, cũng như các vấn đề đã và đang được cộng đồng dân cư quan tâm để giáo dục con em mình và các nhu cầu cấp thiết của cuộc sống mà chương trình giảng dạy phải giải quyết. Sau đó xây dựng nội dung và chương trình HĐGDTN theo một cấu trúc phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và nhu cầu mong muốn của cộng đồng dân cư tại địa phương, được sự quan tâm và ủng hộ từ các lực lượng ngoài nhà trường để chương trình HĐTN đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra.
Như vậy ở hầu hết các khâu lập kế hoạch, xây dựng và triển khai thì vai trò của người hiệu trưởng là vô cùng quan trọng trong việc thiết lập lên khung chương trình và vận hành hệ thống một cách tổng thể để HĐGDTN đạt được kết 10 quả như mong muốn. Các nghiên cứu về tổ chức các HĐTN và quản lý hoạt động trải nghiệm cho HS phổ thông Ở Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh phát triển đổi mới giáo dục và sự bùng nổ về khoa học công nghệ, việc chuyển đổi từ giáo dục truyền thống nặng về truyền đạt kiến thức sang GD hiện đại phát triển năng lực phẩm chất người học thì HDGDTN được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm.