CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Ở nước ngoài HĐGDNGLL từ lâu đã trở thành một đề tài nghiên cứu phong phú và hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và càng ngày họ càng phát hiện ra vai trò to lớn của HĐGDNGLL trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của con người nói chung cũng như vai trò bổ trợ cho các môn học cơ bản nói riêng. Chính vì vậy HĐGDNGLL là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới.
Trong lịch sử, tư tưởng giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục xã hội, giáo dục gia đình đã được nhiều tác giả đề cập tới. Khổng Tử (551 - 479 TCN) - một nhà triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Hoa cổ đại đã đưa ra nguyên tắc và phương pháp giáo dục: “Học phải đi đôi với hành.” Ông luôn dạy học trò học gì phải thực hành ngay điều ấy, củng cố tri thức đã học không chỉ bằng cách ôn luyện trong sách vở mà phải bằng việc làm, gắn việc học tập với sinh hoạt, với đời sống của tự nhiên và xã hội, đồng thời ông đánh giá cao vai trò của cá nhân trong việc tu dưỡng, học thầy, học bạn, học trong cuộc sống. [20] Thomas More (1478 - 1535) - nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ 16 đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội nên việc giáo dục con người phải thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội. Đồng thời trong dạy học ông đề cao phương pháp trực quan, thí nghiệm, thực hành và theo ông giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ.
[20] Đặc biệt là J.A Cômenxki (1592 - 1670) được coi là “ông tổ của nền giáo dục cận đại,” là danh nhân văn hóa thế giới, đã có nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục của nhân loại. Trong đó ông đặc biệt chú trọng đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm thoát khỏi hình thức học tập” giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ. [20] Robert Owen (1771 - 1858) - một nhà giáo dục người Anh đã xây dựng một hệ thống giáo dục hoàn chỉnh trong công xưởng cho người lao động từ ấu thơ đến lúc trưởng thành. Ông nêu lên tư tưởng giáo dục tiến bộ “kết hợp giáo dục với lao 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động sản xuất,” “kết hợp giáo dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội.” Tư tưởng này được Mác đánh giá rất cao.Anghen (1820 - 1895) đã có nhiều đóng góp lớn cho nền giáo dục hiện đại: cung cấp cho khoa học giáo dục một phương pháp luận vững chắc để xây dựng lý luận giáo dục, vạch ra qui luật tất yếu của xã hội tương lai là đào đạo, giáo dục con người phát triển toàn diện.
Muốn vậy phải kết hợp giữa giáo dục đạo đức, thể dục, trí dục và lao động sản xuất trong việc thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động xã hội.Lênin (1870- 1924) là người tiếp tục sự nghiệp của C. Ông đề cao vấn đề phát triển toàn diện con người. Việc hình thành con người phát triển toàn diện không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trường mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình, đoàn thể, và tự rèn luyện của thế hệ trẻ. Người đã nêu khẩu hiệu “học, học nữa, học mãi” và yêu cầu thế hệ trẻ phải kết hợp học tập với lao động và hoạt động xã hội.
Makarencô (1888 - 1939) là nhà lý luận và thực tiễn xuất sắc của nền giáo dục XHCN đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp: “Tôi đã kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể hạn chế để cho quá trình giáo dục chỉ được thực hiện trên lớp mà đáng lẽ ra là phải trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta… Nghĩa là trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp. Công tác giáo dục chỉ toàn bộ hoạt động của trẻ.” Trong thực tiễn công tác của mình, A. Makarencô đã tổ chức các hoạt động ngoại khoá, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M. Gorki và công xã F.Dzerjinski như: Tổ đồng ca, tổ văn học nga, tổ khiêu vũ, tổ thực nghiệm khoa học tự nhiên, tổ vật lý- hoá học, tổ thể thao… [20] 1.
Ở Việt Nam Chúng ta có thể chia thành hai giai đoạn sau: 1. Giai đoạn trước cải cách giáo dục lần thứ ba (từ năm 1979 trở về trước) Ở giai đoạn này mô tả tên gọi và nội dung khái niệm “HĐGDNGLL” chưa được định hình, nhưng nội hàm cơ bản của khái niệm đã được đề cập trong “Thư 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gửi học sinh” nhân ngày khai trường tháng 9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người viết: “Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước.” Trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc” Hồ Chủ tịch đã viết: “Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui học.”[41, tr 19] Trong bài nói ở Hội nghị tổng kết năm học 1977 – 1978 của ngành giáo dục (ngày 05 tháng 7 năm 1978,) Tố Hữu có nói: “Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, ta phải thấu suốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội, không những qua công tác thực hành mà cả trong những giờ dạy trên lớp.
Không phát huy tác dụng tổng hợp của các hoạt động giáo dục thì không có chất lượng giáo dục, kể cả chính trị, đạo đức, văn hoá. Giai đoạn thứ hai (từ cải cách giáo dục lần thứ ba từ năm 1979 tới nay) Nghị quyết số 14 - NQ/TW ngày 11/ 01/ 1979 của Bộ Chính trị Ban chấp hành TW Đảng (Khóa IV) về cải cách GD đã khẳng định: “Nội dung giáo dục ở trường phổ thông trung học mang tính chất toàn diện…, nhưng có chú ý hơn đến việc phát huy sở trường và năng khiếu cá nhân., cần coi trọng giáo dục thẩm mỹ, giáo dục và rèn luyện thể chất, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và rèn luyện quân sự.” Điều lệ trường phổ thông (Ban hành kèm theo quyết định số 440/QĐ ngày 02 - 4 - 1979 của Bộ GD) tại khoản 2,3 điều 10 có nêu: “Lao động sản xuất do nhà trường tổ chức và quản lý nhằm gắn lý thuyết với thực tiễn, vận dụng kiến thức khoa học vào sản xuất, phát triển tư duy khoa học và tư duy kỹ thuật, bồi dưỡng ý thức và thói quen lao động mới, phát triển hứng thú lao động vì lợi ích chung và xây dựng tình cảm cách mạng đối với nhân dân lao động; ngoài các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động ngoài khoá khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục thêm phong phú.” 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 26, trong Điều lệ trường Trung học Cơ sở, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học, (Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) có nêu: - Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và HĐGDNGLL nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động. Để đáp ứng yêu cầu cải cách GD, đã có nhiều công trình nghiên cứu làm rõ khái niệm “HĐGDNGLL” và xác định các hình thức tổ chức có chất lượng HĐGDNGLL trong nhà trường. Cụ thể chia theo hai hướng chính sau: * Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu cơ bản, mang tính lý luận nhằm xác định nội hàm của khái niệm “HĐGDNGLL,” xác định mục tiêu, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nội dung, hình thức của HĐGDNGLL.
Đã có các công trình nghiên cứu sau: - Từ năm 1979, Viện khoa học GD thực hiện đề tài dài hạn nghiên cứu về “Các hoạt động ngoài giờ học lên lớp và sự hình thành nhân cách của học sinh” do Trung tâm nghiên cứu GD đạo đức chủ trì. Đề tài đã được triển khai thực nghiệm từ năm học 1979 - 1980 tại một số trường cấp 1, cấp 2, cấp 3 ở Hà Nội, sau đó kết quả thực nghiệm được thể hiện ở một loạt bài trên tạp chí Nghiên cứu GD và tạp chí Thông tin khoa học GD của một số nhà nghiên cứu như: Đặng Thúy Anh, Phạm Hoàng Gia, Lê Trung Tấn, Phạm Lăng. - Một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, đổi mới phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng HĐGDNGLL do nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học GD thực hiện như: Đặng Thúy Anh, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, Nguyễn Thanh Bình. - Một số nghiên cứu lý luận nhằm xây dựng cơ sở lý luận về HĐGDNGLL của một số tác giả như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Tấn, Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng.
- Một số sách, tài liệu viết về HĐGDNGLL trong thời gian gần đây của một số tác giả như: Bùi Sĩ Tụng, Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Hữu Hợp, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, Phùng Đình Mẫn, Dương Bạch Dương. * Hướng thứ hai: Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn của các trường phổ thông trong tổ chức sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoại khóa, HĐGDNGLL mà tác giả là GV, CBQL trường phổ thông như: Trần Thị Minh Hiền, GV THPT Chu Văn An - Hà Nội; Trần Văn Thế, Phó HT trường THPT Giao Thủy - Nam Định; Nguyễn Hoài Nam, trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc.