Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL ở trường trung học phô thông Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường Trung học phổ thông huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường Trung học phổ thông huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng.
năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh. Hiện nay, nhiều tác giả đã có các công trình nghiên cứu về hoạt động. GDNGLL ở các góc độ khác nhau như: Đặng Thúy An, Nguyễn Dục Quang, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Thị Kỷ, Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Thị Quý. các nghiên cứu đã được xuất bản thành sách như: Nguyễn Thị Quý “Chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT”; Nguyễn Dục Quang “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên hoạt động GDNGLL”; Phùng Đình Mẫn (chủ biên), Trần Văn Hiếu, Thiều Thị Hiền “Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPT”.
Hoạt động GDNGLL được Bộ Giáo dục và Đào tạo coi trọng và xây dựng thành chương trình cho các cấp học, có nhiều tài liệu tập huấn dành cho hoạt động GDNGLL, rèn kỹ năng sống cho học sinh phổ thông. Trong những năm gần đây có một số luận văn Thạc sĩ cũng đã nghiên cứu về hoạt động GDNGLL của các tác giả như: Ngô Văn Phước (1999), “Người hiệu trưởng với công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường THPT Thừa Thiên Huế”; Nguyễn Thị Hoàng Trâm (2003), “Một số biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT các tỉnh phía Nam”; Nguyễn Như Ý (2005), “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay”; Trần Thị Bích Hoa (2007), “Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên ở các trường THPT phía nam sông Tiền - tỉnh Đồng Tháp; Nguyễn Thanh Hải (2009), “Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL của sinh viên ở trường đại 10 học Phạm Văn Đồng tỉnh Quảng Ngãi”. đã cho chúng tôi thêm những cơ sở và kinh nghiệm quý báu trong việc hoàn thiện luận văn của mình. Riêng vấn đề quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai chưa được tác giả nào nghiên cứu.
Luận văn này đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT trên địa bàn huyện Đức Cơ, tinh Gia Lai, luận văn của chúng tôi đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động GDNGLL, tìm ra nguyên nhân và các yếu tố tác động, để làm cơ sở xây dựng. các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL phù hợp với công tác quản lý ở các trường THDT trên địa bàn huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐÈ TÀI 1. Quản lý Khái niệm quản lý đã được các nhà khoa học định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau.
Vì vậy, khi đưa ra khái niệm về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu hay thực tế công việc quản lý của mình.Mác, quản lý là loại lao động điều khiển mọi quá trình lao động, và phát triển xã hộ “Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là tác động của chủ thể quản lý đến khách thê quản lý (đối tượng quản lý) nhằm tô chức, phối hợp hoạt động. của con người trong các quá trình sản xuất xã hội để đạt mục đích đã định. Quản lý trở thành một hoạt động phô biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người.Mác coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặc lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Tất cả mọi lao.
động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động "1 của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [20,tr.342] Theo Frederick Winslow Taylor (1856 — 1915), người sáng lập ra thuyết quản lý theo khoa học, ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9,tr. Harold Koontz (1909 — 1984), được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại viết: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi cá thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn của cá nhân ít nhất” [19,tr.
Các nhà nghiên cứu trong nước cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý: Dưới góc độ của Quản trị học, theo Trần Anh Tuấn thì: “Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt những mục tiêu chung” [9.8] Dưới góc độ khoa học giáo dục: Theo PGS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS. Nguyễn Quốc Chí thì: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7,tr. Đặng Vũ Hoạt và GS.
Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá inh có mục tiêu. Quản lý một hệ thống là một quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những, mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [14. “Quản lý đặc trưng cho quá trình điều khiển và hướng dẫn tắt cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tô chức kinh tế, thông qua việc thành lập và 12 thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thức và giá trị vô hình)”.
Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tô chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tô chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Theo Henry Fayol, công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tai chính, công nghệ và thiên nhién [https://vi.org/wiki/quanly 30-6-2015] Theo từ điển Tiếng Việt thì Quản lý là '“Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan”. Từ những khái niệm trên ta có thể thấy rằng, quản lý là sự tác động liên tục có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trong một tô chức thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục "Theo nghĩa tông quan, quản lý giáo dục là những hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đảo tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Theo Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực trẻ em” [18. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phô thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý 18 rộng vốn hiểu biết, vốn sống cho học sinh, góp phần hoàn thiện nhân cách, hình thành cho học sinh ý thức xã hội, tăng hiệu quả nhận thức và hành động, hình thành tình cảm, hành vi, thái độ, niềm tin ở học sinh.
Hoạt động GDNGLL có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình giáo dục nhằm định hướng và điều chỉnh quá trình giáo dục đạt tới hiệu quả cao, giúp cho nhà giáo dục phát hiện năng khiếu của từng học sinh để có kế hoạch bồi dưỡng, phát huy năng khiếu và sử dụng năng khiếu đó vào cuộc sống của các em sau nay, * Vai trò hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Hoạt động GDNGLL có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục ở nhà trường, giúp học sinh mở rộng, củng có, bổ sung kiến thức, cập nhật thông tin, hiểu biết sâu sắc về các thành tựu khoa học, về lịch sử đất nước, thấy được những giá trị truyền thống của dân tộc, văn hóa của nhân loại. Cùng với các môn học trên lớp, hoạt động GDNGLL trong nhà trường. có vai trò giúp cho học sinh được củng cố, mở rộng, khắc sâu một số kiến thức cơ bản đã được học qua các môn văn hoá, rèn luyện sức khỏe, nâng cao. thể lực, phát triển nhận thức về một số lĩnh vực đời sống xã hội phù hợp với lứa tuổi.
Thông qua các hoạt động này, hình thành cho học sinh những kỹ năng hoạt động tập thể, kỹ năng giao tiếp ở mức độ phủ hợp với lứa tuổi, bao gồm các kỹ năng hợp tác, kỹ năng ra quyết định và giải quyết `, kỹ năng. đặt mục tiêu, kỹ năng ứng phó với căng thẳng; giúp các em biết vận dụng, thực hành những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống như biết ty trong, tự tin, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và tập thể; có hứng thú, tích cực, chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt động tập thể của lớp, trường.