CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP – GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Sự phát triển của giáo dục thường xuyên ở Việt Nam Thuật ngữ “GDTX” được phổ biến trong hệ thống giáo dục quốc dân vào những năm cuối thế kỷ XX. Bước sang thế kỷ mới, thế kỷ phát triển của công nghệ thông tin, đây tuy không phải là một vấn đề mới nhưng được xem xét với một quan điểm, cách nhìn, cách làm mới về phát triển giáo dục thường xuyên trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sự phát triển của GDTX là một quá trình đã được đúc kết kinh nghiệm từ truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân ta qua hàng ngàn năm lịch sử, bài học kinh nghiệm lớn lao của lịch sử qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám thành công cho đến nay, cùng với sự kế thừa kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các nước trong khu vực. Trong thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc, giai cấp thống trị chỉ quan tâm chăm lo việc học hành một số ít con em giai cấp địa chủ, quyền thế. Nhân dân lao động phải cho con em mình học ở các trường làng do các thầy đồ mở lớp dạy với số lượng ít học sinh hoặc một số gia đình có điều kiện thì mời thầy về nhà dạy. Trong thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta, giáo dục thường xuyên còn được gọi là bình dân học vụ, bổ túc văn hóa.
Từ khi đất nước được thống nhất, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, GDTX được hình thành, phát triển mạnh mẽ với những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Điểm thể hiện rõ nhất là GDTX đã từng bước có cơ sở pháp lý và được xem song song, bình đẳng với giáo dục chính qui, nên được gọi là giáo dục không chính quy (mà gần đây là Luật giáo dục gọi là phương thức giáo dục thường xuyên). 5 Sự hình thành GDTX: Để mọi người có cơ hội đi học, học thường xuyên học suốt đời. Ngay sau khi tuyến bố độc lập, để biến tư tưởng “Ai cũng được học hành”thành hiện thực Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành 2 sắc lệnh về việc học của người dân.
- Sắc lệnh số 17 (8/9/1945): “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam” - Sắc lệnh số 19 (8/9/1945): “Trong toàn cõi Việt Nam sẽ thiết lập nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối” Từ hai Sắc lệnh trên một hệ thống tổ chức đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương để chăm lo việc học hành cho người bình dân. Ở Trung ương có Nha bình dân học vụ, ở tỉnh có Ty bình dân học vụ, ở huyện có Nha bình dân học vụ, cơ sở thì có Ban bình dân học vụ và lớp bình dân học vụ. Kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 17: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”, đến nay trong cơ cấu khung hệ thống giáo dục quốc dân của nước Việt Nam luôn có một bộ phần chăm lo đến việc học hành cho người dân lao động vừa làm, vừa học, tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà bộ phận này mang các tên gọi khác nhau như: Ngành học bình dân, ngành học bổ túc văn hóa, ngành giáo dục thường xuyên (từ 1990 đến nay)” 1. Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục thường xuyên Từ khi đất nước giành được độc lập (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm với việc giáo dục cho mọi người.
Ngày sau ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 02/09/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh thành lập nha bình dân học vụ, chống nạn thất học và các lớp bình dân học vụ được triển khai trên toàn đất nước Việt Nam. Người coi diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm. Với quyết tâm “Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái”Bác Hồ kêu gọi toàn dân không chỉ học tập, mà còn kêu gọi mọi 6 người, tất cả cán bộ và nhân dân phải học tập suốt đời “Chúng ta phải học và học tập suốt đời, còn sống thì phải học, còn phải hoạt động cách mạng”[15] Ngày 4/10/1945 Bác đã kêu gọi toàn dân chống nạn thất học qua phong trào bình dân học vụ do chính Người phát động. Trong thư gửi quân nhân học báo (4/1946) Bác viết “Học không bao giờ cùng.
Học mãi để tiến bộ mãi, càng tiến bộ càng phải học thêm”. Trong thư gửi cán bộ giáo viên bình dân học vụ nhân ngày quốc khánh 02/9/1945 Bác căn dặn”Vùng nào hết nạn mù chữ thì các bạn thi đua tiến lên một bước nữa, bằng cách dạy cho đồng bào” 1. Thường thức vệ sinh, để dân bớt ốm đau 2. Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm 3.
Bốn phép tính, để làm ăn có ngăn nắp 4. Lịch sử và địa dư nước ta để nâng cao lòng yêu nước 5. Đạo đức công dân, để thành người công dân đúng đắn”. Đối với cán bộ, Bác khuyên lại càng phải học suốt đời.
Bác nói “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày nay đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bọ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”[15]. Theo Nghị định 90CP (ngày 24/11/2003) của Chính phủ đã khẳng định “Giáo dục thường xuyên là một trong năm phân hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân”.
Từ đó một hệ thống tổ chức của hệ thống giáo dục thường xuyên đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương. Tư tưởng của Bác và Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về GDTX đến nay vẫn còn nguyên giá trị và là một trong những quan điểm quan trọng về giáo dục cho mọi người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một thuộc tính của sự phát triển xã hội, là một yếu tố quan trọng gắn chặt vào sự vận động và phát triển của xã hội loài người, sự phát 7 triển của xã hội loài người dựa vào 3 yếu tố cơ bản đó là: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý.
Tri thức là sự hiểu biết của con người về thế giớ khách quan, sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Lao động và sự vận dụng tri thức tác động vào thế giới làm ra của cải vật chất. Còn quản lý bao gồm cả trí thức và lao động. Quản lý là một hiện tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người, là sản phẩm và yếu tố gắn chặt với hợp tác lao động.
Mác thì bất cứ lao động nào cũng cần đến sự quản lý. Mác giải thích một cách khái quát rằng quản lý là sự hợp tác xác lập tương đương giữa những công việc của từng cá nhân, nhằm thực hiện chức năng cùng xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó. Nói một cách hình ảnh C. Mác đã miêu tả bản chất quản lý là hoạt động lao động để điều khiển lao động.
Ông đã nói “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì sự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Ông đã nêu lên sự tất yếu và vô cùng quan trọng của hoạt động quản lý trong quá trình phát triển của xã hội loài người. * Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý - Thuật ngữ “Quản lý”(Tiếng Việt gốc Hán) được hiểu “Quản lý gồm 2 quá trình tích hợp vào nhau”: + Quá trình “quản”: Gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định + Quá trình “lý”: Gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển. Thuật ngữ này lột tả rõ bản chất của hoạt động quản lý.
- Từ điển Tiếng Việt năm 1992 - Trung tâm từ điển ngôn ngữ - Hà Nội - Việt Nam: “Quản lý là một tôt chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [29]. - Theo cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý là sự tác động có 8 mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”[28]. - Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện lao động của môi trường”'[26]. “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội.
bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng “[26] Hoạt động quản lý vừa là một hoạt động khoa học, vừa là một hoạt động nghệ thuật, nó điều khiển một hệ thống xã hội ở tàm vi mô cũng như vĩ mô. Tuy nhiên có nhiều cách phát biểu, định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu quản lý là một quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định. Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý (khách thể quản lý) trong một tổ chức vận hành có hiệu quả. Công cụ quản lý Mục Chủ thể Khách thể tiêu Quản lý Quản lý 9 Phương pháp Quản lý Sơ đồ 1.
Mô hình hoạt động quản lý - Chủ thể quản lý: Có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức. - Công cụ quản lý: Là phương tiện mà chủ thể tác động tới khách thể. Công cụ quản lý có thể là: Mệnh lệnh, quyết định các văn bản, chính sách, chương trình, mục tiêu. - Phương pháp quản lý: Có thể hiểu là cách thức của chủ thể quản lý tác động lên khách thể.