Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS công lập. Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS công lập quận Phú Nhuận, TP. Chương 3: Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường THCS công lập quận Phú Nhuận, TP. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP 1.
Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Dạy học là một quá trình toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo. Xác định là vai trò chủ đạo, các nhà khoa học, các nhà QL đã tập trung nghiên cứu, đề xuất hoạt động QL giảng dạy sao cho hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của giáo dục.
Cômenxki là ông tổ của nền giáo dục hiện đại, là một thiên tài rực rỡ, một nhà phát minh lỗi lạc, năm 1992 UNESCO đã ghi nhận ông là một danh nhân văn hóa thế giới. Trong quá trình hoạt động giáo dục, J. Cômenxki đã viết hàng trăm tác phẩm. Tiêu biểu nhất là tác phẩm “Phép giảng dạy vĩ đại” được xuất bản vào năm 1632, ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên, quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất cứ một điều gì.
Ông đưa ra một hệ thống các nguyên tắc dạy học trong đó nguyên tắc trực quan được coi là nguyên tắc quan trọng nhất. Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”. Ông còn viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… Hãy tìm ra phương pháp cho giáo viên dạy ít hơn, học sinh học được nhiều hơn” (Phạm Khắc Chương, 2004).
XukhomLinxki người Nga với 26 năm làm hiệu trưởng (HT) đã tổng kết kinh nghiệm qua tác phẩm “Một số kinh nghiệm lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ thông” khẳng định: Người HT phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác QL nhà trường. Đồng thời ông cũng đã đưa ra một số biện pháp QL của HT nhà trường phổ thông như việc phân công hợp lí công việc giữa HT và phó hiệu trưởng (PHT); việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GV; việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học (XukhomLinxki, 1984). John Dewey, nhà sư phạm người Mỹ, đã đề cao hoạt động đa dạng của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của HS ngoài sách giáo khoa và lời giảng của GV qua tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” được xuất bản vào năm 2008. Ông đặc biệt chú ý đến việc tổ chức hoạt động cho HS, theo ông học sinh là mặt, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh.
Đây là ý tưởng khởi nguồn cho triết lí “Lấy học sinh làm trung tâm giáo dục” (Dewey, 2008). Các nhà nghiên cứu giáo dục Nga khẳng định rằng kết quả của toàn bộ hoạt động quản lí của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí hoạt động giảng dạy của đội ngũ GV.I Saxerdôtôp đã viết “đi sâu nghiên cứu lãnh đạo công tác giảng dạy, giáo dục trong nhà trường và xem đây như khâu then chốt trong hoạt động quản lí của hiệu trưởng, các tác giả thống nhất và khẳng định người hiệu trưởng phải là người lãnh đạo toàn diện và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lí nhà trường” (Zimin, Kondakôp, Saxerdôtôp, 1985). Montessori bắt đầu phát triển phương pháp và triết lí giáo dục của mình vào năm 1897. Năm 1907, bà mở lớp học đầu tiên của mình mang tên Casa dei Bambini cho học sinh tiểu học, hay còn gọi là Children’s House (Ngôi Nhà Trẻ Thơ) tại một khu căn hộ nằm ở thủ đô Roma.
Ngay từ ban đầu, Montessori đã bắt đầu thực hiện 9 phương pháp giáo dục của mình thông qua quan sát những gì trẻ trải nghiệm với môi trường xung quanh, với các học cụ và bài học được thiết kế dành riêng cho trẻ. Bà thường gọi công việc mà mình đang làm là “giáo dục mang tính khoa học”. Phương pháp Montessori sau đó được phát triển và mở rộng ra toàn nước Mỹ năm 1911 và được biết đến rất nhiều thông qua các phương tiện thông tin, đặc biệt đã được xuất bản thành sách. Montessori tiếp tục nghiên cứu và phát triển phương pháp này cho các bậc học từ giai đoạn sơ sinh đến 24 tuổi.
Ngoài ra, bà cũng đã xây dựng các phương pháp tiếp cận giáo dục đối với những trẻ từ 0-3 tuổi, từ 3-6 tuổi, và từ 6-12 tuổi. Chương trình dành cho trẻ từ 12-18 tuổi cũng được bà nghiên cứu và lên chương trình. Phương pháp Montessori được cộng đồng quốc tế công nhận, và nó đã được áp dụng thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có một số trường ở Việt Nam (trường tư thục) vận dụng triển khai. Đặc điểm phương pháp này là học sinh thông qua hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên để khai phá trí thức.
Năm 1929, Montessori đã thành lập tổ chức AMI, để duy trì sự nguyên vẹn trong phương châm giáo dục của bà, và đảm bảo nó vẫn trường tồn ngay cả khi bà không còn sống. AMI đến nay vẫn tiếp tục duy trì các lớp đào tạo GV, có sử dụng các học cụ do bà Montessori thiết kế và sau này là con trai Mario Montessori phát triển thêm (Hiệp hội Giáo dục Montessori AMI Việt Nam, 2019). Và đến năm 2016, quan điểm người học là trung tâm của giáo dục lại được củng cố một lần nữa bởi Bob Sornson qua cuốn sách “Over-Tested and Under- Prepared: Using Competency Based Learning to Transform Our Schools”. Ông cho rằng mô hình giảng dạy dựa trên chương trình giảng dạy là phương pháp giảng dạy truyền thống nhưng liên tục thất bại trong việc tạo ra những công dân được giáo dục tốt, bởi việc kiểm tra truyền thống và hướng dẫn một cách cứng nhắc buộc GV phải bao quát quá nhiều nội dung trong thời gian ngắn, từ đó không thể đáp ứng nhu cầu PTNL của từng HS (Sornson, 2016).
Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, tác giả Đặng Quốc Bảo viết trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường” (Đặng Quốc Bảo, 2010); Nguyễn Ngọc Bảo có bài viết “Phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình dạy học” (Nguyễn Ngọc Bảo, 1995); Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm viết trong cuốn “Lý luận dạy học ở trường THCS” (Nguyễn Ngọc Bảo và Trần Kiểm, 2007) đều cho rằng nhiệm vụ chính, trọng tâm của các nhà trường phổ thông là quản lí và tổ chức hoạt động dạy-học. Hoạt động dạy học bao gồm 2 quá trình, quá trình dạy và quá trình học, hai quá trình có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Quá trình dạy học là một hệ toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau. Sự tương tác giữa dạy và học mang tính chất cộng tác, trong đó dạy giữ vai trò chủ đạo.
Tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn trong “Những bài giảng về quản lý trường học” đã cho chúng ta cách nhìn toàn bộ công việc quản lí của người HT. Người HT phải luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự QL dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự QL các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và hoạt động khác bổ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh trọn vẹn (Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn, 1987). Mục tiêu của việc dạy và học là giúp cho học sinh biết vận dụng các phương pháp học tập một cách tích cực, từ đó hoàn chỉnh được các kiến thức và kĩ năng cốt lõi, có ý thức lựa chọn nghề nghiệp và tạo dựng ý thức học tập suốt đời. Đồng thời, công tác giáo dục còn hướng đến xây dựng cho các em những phẩm chất tốt đẹp và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có ích, là người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, có khả năng phục vụ sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước trong thời đại mới.
Xác định được điều đó, căn cứ vào Luật Giáo dục ngày 14/06/2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25/11/2009; Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017 của Quốc hội khóa XIV, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới 2018 đã được ban hành 11 kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp học sinh phát triển hài hòa về thể chất lẫn tinh thần. Đây là kết quả của quá trình tổng kết, đánh giá lại chương trình và sách giáo khoa hiện hành, thực hiện khắc phục những bất cập và kế thừa những ưu điểm theo tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội trong nước cũng như quốc tế. Chương trình đã được các Hội đồng Quốc gia Thẩm định chương trình giáo dục phổ thông xem xét, đánh giá và thông qua (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2018).
Tác giả Trần Khánh Đức, trong cuốn “Quản lý đào tạo và Quản trị trường hiện đại” cho rằng sự khác nhau của các quan niệm dạy học nằm ở chỗ đã nhấn mạnh hơn yếu tố nào trong các chức năng của dạy và học.