Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Quản lý ra đời từ rất xa xưa, nó xuất hiện từ thuở bình minh của xã hội loài người. Quản lý diễn ra trong mọi tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Nó chính là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi tổ chức.
Trên cơ sở đó khoa học quản lý ra đời. Nước ngoài Ở phương Tây, các học thuyết về quản lý ra đời trong thời kì cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 khẳng định sự ra đời của khoa học quản lý. Tiêu biểu là Thuyết quản lý theo khoa học của Fredrich Winslow Taylor (1856- 1915). Thuyết QL Hành chính của Henrry Fayol (1841-1925).
Thuyết quản lý của hai tác giả được đánh giá là cha đẻ của một trong nhiều học thuyết QL hiện đại nhất, với tư tưởng cốt yếu là là cần phải có cách QL riêng với từng lĩnh vực một cách khoa học và phải quan tâm đến con người trong quá trình hoạt động. Trong lĩnh vực giáo dục, lý luận “Quản lý giáo dục"được phát triển mạnh mẽ vào những năm cuối của thế kỷ XX do giáo dục trở thành tiêu điểm của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu về công tác quản lý giáo dục như: “Những vấn đề quản lý trường học”(P.I Kônđakốp); “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục”(M.I Kônđakốp); “Quản lý giáo dục quốc dân trên địa bàn huyện"(M. Học thuyết "Trí thông minh đa dạng"của Howard Gardner.
Các tác giả đều khẳng định vai trò lãnh đạo của CBQL là hết sức quan trọng. Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà quản lý về cách quản lý sẽ đạt mục tiêu đề ra, hay đề ra các cách quản lý khác nhau để thúc đẩy trí thông minh đa dạng của học sinh. Song làm thế nào để quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường phổ thông đạt kết quả cao nhất, huy động được tốt nhất sức mạnh của mỗi CBQL đó là vấn đề mà các tác giả đặt ra trong công trình nghiên cứu của mình.2 Trong nước Ở Việt Nam từ những năm 90 trở về trước đã có một số công trình của nhiều tác giả bàn về lý luận quản lý trường học và các hoạt động quản lý nhà trường như: Nguyễn Ngọc Quang (năm 1989) và các bài giảng về QLGD (Trường CBQL giáo dục Trung ương I).v Những năm đầu của thập kỷ 90 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị như: “Giáo trình khoa học quản lý" của Phạm Trọng Mạnh (năm 2001); “Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn"của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB Thống kê Hà Nội, năm 1999); “Tâm lý xã hội trong quản lý"của Ngô Công Hoàn (năm 2002); “Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường"của PGS.TS Thái Văn Thành (năm 2007); “Đại cương khoa học quản lý” của PGS.TS Trần Hữu Cát và TS Đoàn Minh Duệ (năm 1999).
Như trên, các công trình nghiên cứu thường đi sâu vào lý luận QLGD nói chung thì hiện nay, lý luận về QLGD đã chú ý đến phương diện QL hoạt động dạy học một bộ môn cụ thể ở trường phổ thông. Trong nhà trường phổ thông, tiếng Anh là môn học có tính đặc thù riêng. Nhiều chuyên gia giáo dục đã nghiên cứu về hoạt động dạy học môn tiếng Anh như: Tác giả Bùi Hiền nghiên cứu về “Phương pháp hiện đại dạy - học ngoại ngữ” - NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1999.; tác giả Hoàng Cơ Chinh nghiên cứu về “Đổi mới quản lý quá trình dạy học nhằm thực hiện công tác đổi mới phương pháp dạy học” - Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 2000; Tác giả Phạm Hùng Quang “Một số điều kiện đổi mới phương pháp dạy học” - Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 2000; “Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ” - NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 2005. Đặc biệt, khi nghiên cứu về Quản lí hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy đã có một số luận văn Thạc sĩ tiêu biểu đề cập đến vấn đề này như: "Quản lý dạy học môn Tiếng Anh cho sinh viên trường Đại học Thăng Long theo chuẩn đầu ra", tác giả Nguyễn Thu Trang; "Quản lý dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực ở các trường THPT Thị xã Quảng Yên - Tỉnh Quảng Ninh", tác giả Phan Tuấn Dũng; "Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS huyện Hiệp Hòa, tỉnh 7 Bắc Giang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục", tác giả Phạm Nguyễn Ngọc Khánh.
Biện pháp quản lí mà các tác giả đề xuất khá toàn diện, phong phú (như: quản lí hoạt động xây dựng và thực hiện kế hoạch, quản lí hoạt động dạy học của giáo viên của tác giả Phan Tuấn Dũng; xây dựng kế hoạch dạy học và học tập, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, xây dựng nề nếp, nâng cao chất lượng dạy học và học tập, chỉ đạo đổi mới phương pháp, tăng cường hoạt động tham quan ngoại khoá, kiểm tra đánh giá của tác giả Nguyễn Thu Trang). Tuy nhiên, với các trường phổ thông Mỹ Ivy Global School thì những biện pháp này chỉ mang tính tham khảo, bởi những tính chất, đặc thù riêng biệt. Mặt khác việc quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại Ivy Global School được tiếp cận nghiên cứu theo hướng quản lý hoạt động dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay khác với đa số đề tài trước đây đã thực hiện. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Theo tác giả M.Kondacov: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng"[17, tr 93] Tác giả Đặng Quốc Bảo khái quát “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội"[2, tr 31]. Tác giả Phạm Minh Hạc cũng nhấn mạnh “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất”.[8, tr 61] Ngày nay, theo quan điểm học tập thường xuyên, học tập suốt đời, giáo dục không còn giới hạn cho thế hệ trẻ mà là giáo dục cho mọi người, cho nên 8 QLGD được hiểu là sự điều hành của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. “Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức giáo dục có hiệu quả để đào tạo ra lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và biết phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và xã hội” [14, tr. Từ những định nghĩa trên có thể thấy: - QLGD là một loại hình của QL xã hội, là quá trình vận dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm,.
của khoa học QL vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục. - Chủ thể QL có thể là bên trong, bên trên và bên ngoài. Đối tượng QL là thông tin, vật chất, con người và quá trình biến đổi. Quản lí giáo dục bao giờ cũng liên quan đến trao đổi thông tin và đều có mối liên hệ ngược.
Mục đích của QLGD là nâng cao chất lượng giáo dục. - Bản chất của hoạt động QL là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra. CCQL CTQL KTQL MTQL PPQL Hình 1.1: Sơ đồ bản chất của hoạt động quản lý * Ghi chú: CTQL - Chủ thể quản lý; CCQL - Công cụ quản lý; KTQL - Khách thể quản lý; PPQL - Phương pháp quản lý; MTQL - Mục tiêu quản lý. Quản lý nhà trường Trường học là một tổ chức, ở đó tiến hành quá trình dạy học.
Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp và phương tiện, có mục đích, có sự 9 lãnh đạo của nhà GD, có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học. Nội hàm của khái niệm quản lý nhà trường được nhiều tác giả trong và ngoài nước diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau.Kondacov đã khái quát: Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu QL nhà trường (công việc nhà trường là một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt). Hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể QL đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm của quá trình dạy- học và GD thế hệ đang lớn lên[17].
Trong thực tiễn Việt Nam, tác giả Phạm Minh Hạc đã xác định: “QL nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS"[9, tr 71]. Như vậy, QL nhà trường chính là QL giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng, đó là nhà trường. QL nhà trường về cơ bản khác với QL các lĩnh vực khác. Những tác động của chủ thể QL là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng QL nhằm giải quyết nhiệm vụ giáo dục của nhà trường.
Đó là hệ thống tác động có phương hướng, có mục đích, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau. QL nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo.