CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Tương lai của một đất nước chính là trẻ em, trẻ em chính là tài sản, là công dân tương lai của mỗi quốc gia. Do đó, việc CS, ND và giáo dục trẻ ngay từ khi còn nhỏ có ý nghĩa rất quan trọng.
Hoạt động CS, ND trẻ tốt sẽ tác động tích cực đến sức khỏe, sự phát triển tinh thần và trí tuệ của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển thể chất nói chung, học tập và lao động nói riêng. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy trí nhớ, sức chú ý, sự cần cù, độ dẻo dai trong học tập phụ thuộc rất nhiều vào trạng thái chung của sức khỏe và thể lực. Theo nhà giáo dục Macarenco, "95% kết quả của quá trình giáo dục một con người từ sinh ra đến lúc chết được quyết định bởi giai đoạn 5 năm đầu của quá trình đó" [21]. Theo Tsunesaburo Makiguchi (1994), môi trường giáo dục tích cực sẽ giúp trẻ được tham gia an toàn trong các hoạt động trải nghiệm, trẻ được vận động tích cực và khám phá các giá trị qua thực tiễn cuộc sống hằng ngày.
Như vậy, để giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao chất lượng trong các hoạt động CS, ND trẻ, nhà trường cần phải xây dựng môi trường giáo dục tích cực trong đó mọi hoạt động đều hướng đến đứa trẻ với đầy đủ những trang thiết bị an toàn, đa dạng và sinh động phù hợp với trẻ [22]. Makoto Shichida của Nhật Bản đã viết trong cuốn “Phương pháp Shichida” về tầm quan trọng của dinh dưỡng có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất và nhân cách của trẻ. Đây là phương pháp giáo dục cân nhắc đến những tác động, kích thích tích cực để giúp não bộ phát triển một cách toàn diện mà không tạo ra sự chênh lệch giữa não trái và não phải. Các bán cầu não sẽ được chú trọng kích thích sự phát triển theo đúng giai đoạn 7 phát triển sinh học của trẻ nhằm phát triển hết tiềm năng của bé.
Bên cạnh đó, các bài tập thể dục và chế độ dinh dưỡng thích hợp rất được quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ. Và quan trọng hơn cả, phương pháp giáo dục Shichida đặt mục tiêu giáo dục toàn bộ nhân cách và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ lên hàng đầu. Cụ thể là dạy bé những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống, cách bé suy nghĩ độc lập, các quy tắc xã hội, cũng như việc phát triển những cảm xúc và tinh thần cộng đồng. Phương pháp giáo dục này sẽ giúp trẻ phát triển động cơ học tập, cũng như niềm vui tò mò, khám phá những điều mới và thế giới quan xung quanh trẻ [23].
Theo Friedrich Froebel (2005) thì: Trường mầm non phải được thiết kế như một môi trường giáo dục mà ở đó trẻ em có thể phát triển theo một định hướng đúng đắn thông qua việc tự hoạt động, sử dụng các trò chơi, bài hát, những câu chuyện và các hoạt động. Như vậy, qua hoạt động vui chơi, trẻ giao tiếp và bắt chước các hoạt động kinh tế và xã hội của người lớn, từ đó trẻ sẽ được dẫn dắt từ từ vào một thế giới rộng lớn hơn dưới sự hướng dẫn của đội ngũ giáo viên đầy tình yêu thương [36]. Trong nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả của một chương trình nuôi dạy chất lượng áp dụng trên một số trẻ em ở các gia đình bình thường” tại Trường University Of Nevada, tác giả Sower Michelle Denise, đã đánh giá cao sự ảnh hưởng của gia đình đến việc chăm sóc trẻ cũng như chương trình nuôi dạy trẻ [38]. Drirence Chatoor dựa trên 25 năm nghiên cứu, điều trị, đã giúp cho mọi người hiểu, xác định khó khăn đặc thù của trẻ như: Bé không biết đói? Bé 8 ghét thức ăn? Bé không biết no? Hay vì bé sợ ăn? Qua cuốn sách “Bé yêu học ăn”, tác giả đã đưa ra các phương pháp khoa học, vừa dễ áp dụng giúp trẻ ăn tốt mà còn giúp người lớn xây dựng một môi trường ăn uống cho trẻ khoa học [12].
Qua các công trình nghiên cứu cho thấy việc CS, ND trẻ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển thể chất, tinh thần trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện của trẻ. Quá trình đó không chỉ là việc của các trường mầm non, của giáo viên mà là của cả gia đình và xã hội. Nghiên cứu ở trong nước Trước đây, nội dung CS, ND trẻ chỉ được coi như là một bộ phận, một nội dung để hỗ trợ cho các hoạt động học tập của trẻ ở trường mầm non thì trong Chương trình Giáo dục mầm non ban hành theo Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì nội dung giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe đã được quan tâm và coi đó như là một nhiệm vụ chính song song với nhiệm vụ giáo dục trẻ trong các trường mầm non và đây cũng là một trong những nội dung quyết định sự thành công của chương trình [3]. Thủ tướng Chính phủ ban hành hành Quyết định số: 02/QĐ-TTg ngày 05/01/2022 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2021 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045[5]; Quyết định số: 1437/QĐ-TTg ngày 29/10/2018 Phê duyệt Đề án chăm sóc vì sự phát triển toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời tại gia đình và cộng đồng giai đoạn 2018-2025 [6].
Nghiên cứu về hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ đã được nhiều tác giả trong nước quan tâm, như: Tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non” (từ lọt lòng đến 6 tuổi) giới thiệu về những vấn đề cơ bản, hệ thống về tâm lý học trẻ em dựa trên những nghiên cứu về tâm lý trẻ em của các nhà khoa học trong và ngoài nước, được trình bày theo quan điểm tâm lý học khoa học - coi trẻ em là một thực thể tự nhiên đang phát triển, sự phát triển đó 9 chính là đứa trẻ đang lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử, xã hội trong nền văn hóa do loài người sáng tạo nên, từ đó đưa ra các phương pháp chăm sóc trẻ ở những giai đoạn khác nhau [34]. Tác giả Lê Thị Hoa Mai với cuốn “dinh dưỡng trẻ em” đã cung cấp những kiến thức cơ bản trên cơ sở khoa học về dinh dưỡng để áp dụng trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở độ tuổi mầm non [17]. Tác giả Hoàng Thị Phương với tài liệu “Phương pháp chăm sóc, vệ sinh trẻ em” đã tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề có liên quan đến bảo vệ và củng cố sức khỏe trẻ em từ 0-6 tuổi, môi trường sống có ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ, đặc điểm chăm sóc trẻ, phương pháp chăm sóc và vệ sinh cho trẻ mầm non, cách đánh giá hiệu quả chăm sóc, giáo dục trẻ một cách khách quan [27]. Tác giả Hồng Thu, Đỗ Huy với cuốn “Dinh dưỡng và cách chế biến món ăn cho trẻ mầm non” đã đưa ra những yêu cầu về dinh dưỡng cho trẻ nói chung và dinh dưỡng cho trẻ trong một ngày ở trường mầm non nói riêng.
Tài liệu cũng đưa ra các cách chế biến các món ăn thông thường phù hợp với trẻ mầm non, đảm bảo các yêu cầu dễ tìm nguồn thực phẩm, dễ chế biến nhưng được trẻ yêu thích [32]. Thời gian qua, một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD cũng đã nghiên cứu về vấn đề này, như: Hà Thị Như Ý (2015), Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ tại các trường mầm non tư thục trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Quy Nhơn [35]. Triệu Thị Hằng (2016), Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại Trường mầm non Hoa Hồng, Quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, Luận văn Quản lý giáo dục, Trường Đại học giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội [15]. Đinh Thị Thu Hiền (2016), Quản lý công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non trên địa bàn thàn phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Luận văn 10 thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên [16].
Phạm Thị Tánh (2017), Quản lý hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ tại các trường mầm non huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội [31]. Nguyễn Ngọc Phượng Nga (2019), Quản lý hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại các trường mầm non Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [26]. Nguyễn Thị Ngọc Quyền (2019), Quản lý hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại các trường mầm non, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Quy Nhơn [30]. Dương Thanh Huyền (2020), Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mẫu giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm ở Trường mầm non Liên Cơ Lâm Thao ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục [19].
Hồ Thị Nga (2021), Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại các trường mầm non trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục, Đại học Quy Nhơn [25]. Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về CS, ND trẻ mầm non; Tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng tại các trường mầm non; Qua đó đã đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động CS, ND trẻ tại các trường mầm non. Tuy vậy, ở huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý là một phạm trù khách quan và tồn tại như một tất yếu của lịch sử, Các Mác đã nhận định rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những 11 chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.