Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA QUAN LÝ HOAT ĐỘNG CHAM SOC TRE MẪU GIÁO Ở CÁC TRUONG MAM NON 1.1 Lich sử nghiên cứu vẫn để Công tac bảo vệ, chăm súc trẻ được xem lả một trong những chính sách ưu tiên hàng đâu của Đảng, Nha nước và địa phương trong việc đảm bảo an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ôn định va lâu dai của đất nước. Với quan điểm ấy, Quốc hội đã ban hành Luật số 25/2004/QH11 ngày 15/6/2004 vé bao về, chăm sóc và gido dục trẻ em. Thủ tưởng Chỉnh phủ ban hành Chi thị số 1408/CT-TTg ngày 01/9/2009 vẻ tăng cường công tác bảo vệ. chăm sóc trẻ em.
Bộ GD&ĐT ban hành Công văn số 13003/BGDĐT- GDMN ngay 11/12/2007 vẻ việc tăng cường công tác quản lý chỉ đạo thực hiện chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toản cho trẻ trong các cơ sở gido dục mam non va Thông tư số 13/2010/TT-RGDĐT ngay 15/4/2010 ban hành Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng, chẳng tai nạn, thương tích trong cơ sở giáo dục mam non. Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20-CT/TW ngảy 5/11/2012 vẻ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, gido dục và bảo vệ trẻ em trong tinh hinh mới và Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành Công văn số 1171/LDTBXH- BVCSTE ngày 12/4/2013 về việc triển khai Tháng hành động vì trẻ em năm 2013. Ngoải ra, van dé nay cũng được nhiễu tác giả quan tâm và nghiên cứu như: Luận án Tiển sĩ y hoc Chăm sóc sức khỏe trẻ mẫu giáo trong trường mam non va để xuất giải nhản can thiệp của Tao Thị Hong Van, năm 2009.
Nghiên cứu dé xuất các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi ở gia đình, chủ nhiệm đẻ tải là Tran Thị Bich Trả cùng các 1 thành viên tham gia là Nguyễn Thị Quyên. Phan Thị Ngọc Anh, Lương Thị Binh, Phan Lan Anh. Tuy nhiên, các tác giả trên chủ yếu nghiên cứu vẻ thực trang chăm sóc trẻ con công tắc quản lý hoạt động chăm sóc trẻ mẫu giáo ở các trường mằm non công lập thì chưa có nhiễu công trình nghiên cứu.2 Hệ thông khái niệm 121 Quản ly Quan lý là một hoạt động được hình thành từ khi xã hội loải người có sự phân công lao động, con người có sự hợp tác với nhau hoặc củng nhau hoạt động với những mục dich chung nào đó. Quản lý rất cần thiết cho tat cả mọi lĩnh vực hoạt động đời sống của con người.
Ở đâu con người tạo lập nên nhom xã hộ là ở đó cần đến quản lý, dù đó là nhóm nhỏ, nhóm lớn, nhóm chính thức, nhóm không chính thức và bat kể nội dung hoạt động nhóm đó là gi. Có thé nói quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó.Marx đã khang định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiễn hành trên quy mô tương đối lớn, thi ít nhiều cũng cin đến một sự chi đạo đẻ điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuắt,. Một người độc tấu vĩ cằm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thi cẳn phải có nhạc trưởng” [17]. Điêu đó cho thấy rằng hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công hợp tac lao động của xã hội loài người, nhằm đạt mục đích nhất định.
Đây chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng để đạt mục tiêu dé ra. Hoạt động quản lý còn lả hoạt động lao động dé điều khiển lao động. một loại lao động có ý nghĩa tất yếu và vĩnh hãng với chức năng điều khiển mọi hoạt động xã hội vẻ kinh tế, quân sự. chính trị, xã hội.
Có nhiều tac giả với những phát bieu khác nhau ve quản ly, cụ thẻ như: 14 W.Taylor, người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động đã nêu: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm như thể nao dé đạt hiệu quả tốt nhất và rẻ nhất” [13].Koonts cho rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được những mục đích của nhóm. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mả trong đó con người có thể đạt được những mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bắt mãn cá nhân ít nhất" [1 1]. Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp viết “Quản lý hành chính là dự đoán và lập ké hoạch, tô chức điều khiển, phôi hợp và kiêm tra” [8]. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý 1a thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý.
Đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (quản) và sửa sang, sắp xép (lý) dé cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác lao động được ôn định và phát triển” [1]. Tác giả Nguyễn Thị Liên Diệp cho rằng: “Quản lý là một hoạt động cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức, nhằm đạt được những mục tiêu chung. Như vậy, hoạt động quản lý là hoạt động chi phát sinh khi con người kết hợp với nhau thành một tập thé” [7]. Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu; — Quản lý là một loại lao động dé điều khiển lao động.
~ Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện (Quản lý hành chính, quản ly văn hóa, quản ly sản xuất.) — Quản lý là một nghệ thuật tác động vào một hệ thống. — Quản lý là một tổ hợp phương pháp tạo nên vận hành của hệ nhằm thực hiện các mục tiêu, — Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống gdm hai phân hệ chủ thé quản lý và khách thé quan lý. ~ Đối tượng quan lý chủ yếu vẫn là con người. 15 Từ những ý chung của các định nghĩa nêu trên.
có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có mục dich, có ké hoạch của chủ thé quản ly đến khách thé quản ly nham đạt được mục dich đã dé ra.22 — Quản lý giáo duc 4 Khải niệm giáo dục: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người. Giáo dục phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. giao dục xuất hiện như một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành một hoạt động tự giác có ý thức. Ngày nay, giáo dục đã trở thành một hoạt động có tô chức chuyên biệt, đạt tới trình độ cao, có mục tiêu, có chương trình, kế hoạch, có nội dung, phương pháp khoa học và trở thành động lực thúc đây sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người.
Giáo dục là hoạt động truyền thụ kinh nghiệm, lịch sử, xã hội từ thé hệ trước cho thé hệ sau, nhằm chuẩn bị cho thé hệ sau tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội [14]. * Quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý. nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức vả vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dan [4]. Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích.
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ the quản lý nhằm to chức, điều khiển va quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục (khách thẻ quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu. kế hoạch giáo duc đặt ra [25]. Theo tác giả Tran Kiểm thì khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cap độ. Ít nhất có hai cap độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Đối với cấp vĩ mỏ: Quan lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục dich, có kế hoạch, có hệ thống. hợp quy luật) của chủ thé quản lý đến tat cá các mắt xích của hệ thông (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là 16 nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, dao tạo thé hệ trẻ mà xã hội dat ra cho ngành Giáo dục [15]. Đổi với cap vi mô: Quan lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thong, hợp quy luật) của chủ thé quản lý đến tập thé giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nha trường nhằm thực hiện có chất lượng va hiệu quả mục tiêu phát triển giáo duc của nha trường{1$}. Quan lý giáo dục là hệ thong tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ the quan lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lỗi và nguyên lý giáo đục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ma tiêu điểm hội tụ 1a quá trình dạy hoc, giáo duc thé hệ trẻ.
đưa hệ thông giáo dục đến mục tiêu dự kiến [3]. Những khái niệm trên tuy được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau nhưng tựu trung: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thê quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả nhất. Chức năng quản lý giáo dục: Chức năng kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá là tổ chức và lãnh đạo công việc theo một kế hoạch. Thực hiện chức năng kế hoạch hoá là đưa mọi hoạt động giáo dục vào công tác kế hoạch với việc xây dựng mục tiêu cụ thé, biện pháp rõ rang, xác định những điều kiện và phương tiện cân thiết trong một thời gian nhất định cho cả hệ thông quản lý.
Trong chu trình quan lý giáo dục, kế hoach hoá là hành động dau tiên của người quản lý, là giai đoạn khởi đầu quan trọng nhất làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Kết quả của chức năng kế hoạch hoá tạo nên nội dug cơ bản của chu trình quản lý. Đó là mô hình đự báo kết quả, là chương trình hành động của tổ chức trong suốt kỳ kế hoạch. Trong quản lý, đây cũng là căn cứ mang tinh pháp lý quy định hành động của cả tỏ chức.
1? Dé thực hiện tốt chức năng kế hoạch hoá.