Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội Chương 4: Định hướng và giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ HỌC NGHỀ TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Các nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề hỗ trợ đào tạo nghề cho NLĐ được nhìn nhận trên nhiều giác độ và các tên gọi khác.
Nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này chủ yếu đề cập đến việc cải cách hệ thống đào tạo nghề như một liệu pháp chủ chốt để giải quyết vấn đề cung lao động qua đào tạo nghề cho các nền kinh tế. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: (1) Tác phẩm Cải cách giáo dục và đào tạo nghề của Indermit S. Gill và Fred Fluitman năm 2000 đã đề cập rất nhiều kinh nghiệm của các nước phân ra làm các khối khác nhau như các nước chậm phát triển, các nước phát triển và các nước đang chuyên đổi. Trong đó, vấn đề cốt lõi được giải quyết là làm thế nào để cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay phù hợp với thị trường lao động.
Mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có những điều kiện cụ thể khác nhau nên có những bài học khác nhau về cải cách hệ thống dạy nghề. Đồng thời, công trình cũng có đề cập đến những chính sách, mô hình khác nhau của các nền kinh tế trong giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao động, vấn đề việc làm cho đối tượng đầu ra của hệ thống đào tạo trong tương quan với hoạt động kinh tế. (2) Ấn phẩm Đào tạo kỹ thuật và dạy nghề của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) xuất bản năm 1991, đã đề cập tới các vấn đề về đào tạo nghề cho NLĐ, kinh nghiệm của các nước. Nội dung chủ yếu của ấn phẩm là đi sâu vào các chức năng, đặc điểm của hệ thống dạy nghề, các chính sách của các quốc gia trong việc đào tạo nghề.
Ngoài ra, ấn phẩm cũng đi sâu vào việc đào tạo nghề đáp ứng các nhu cầu của các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Đặc điểm cơ bản của ấn phẩm này 5 khác với các ấn phầm khác là đi sâu vào phân tích kết cấu hệ thống giáo dục và dạy nghề với kinh nghiệm của nhiều nước có mô hình đào tạo nghề khác nhau. Tình hình nghiên cứu trong nước Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, hiện tượng thất nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và tình trạng thất nghiệp có xu hướng ngày càng tăng, kể cả ở khu vực nông thôn và thành thị. Chính vì vậy, công tác quản lý hoạt động đào tạo nghề đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý.
Tác giả Phan Chính Thức trong Luận án Tiến sĩ Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa năm 2003 đã đề cập đến hệ thống đào tạo nghề trên giác độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế, đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam. Đồng thời, tác giả có đưa ra một số giải pháp tập trung vào phát triển hệ thống dạy nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa của đất nước. Năm 2016, tác giả Mạc Văn Tiến đã viết bài Gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp: Lợi ích và trách nhiệm trên Tạp chí tự động hóa ngày nay. Bài viết chỉ ra rằng cần đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu của xã hội bằng cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo.
Trên cơ sở phân tích thực trạng dạy nghề và hoạt động gắn kế giữa cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp hiện nay, Tác giả đưa ra các định hướng hoạt động thiết thực cho các bên như cơ sở dạy nghề, doanh nhiệp, về chính sách và quản lý. Năm 2016, trong bài Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực khu công nghiệp tác giả Nguyễn Hồng Mỉnh đã chỉ ra những kết quả công tác dạy nghề nước ta đạt được như về hoạt động quản lý quy hoạch, về thu hút người học, vềchất lương̣ đào taọ nghề , về hợp tác với doanh nghiệp và về thực trạng thu nhập của NLĐ có việc làm sau khi hoàn thành khóa học nghề. Đồng thời, Tác giả cũng chỉ ra một số khó khăn thách thức mà công tác này gặp phải từ đó đưa ra định hướng và các giải pháp khuyến nghị cần thiết. Các khoảng trống và hướng nghiên cứu Tất cả các công trình trên đã tiến hành nghiên cứu về nhiều khía cạnh có liên quan đến BHTN và đào tạo nghề.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề sau: - Hiệu quả cá nhân thu được từ việc đi học và tìm việc làm đối với đối tượng theo học các chương trình đào tạo nghề; - Phân tích lựa chọn cơ hội học nghề và cơ hội việc làm cho NLĐ; - Giải pháp đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu thực tế về nhân lực. Mặc dù có khá nhiều công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu nhưng các công trình này trong quá trình thực hiện cũng như kết quả còn hạn chế, thiếu sót chủ quan và khách quan là mới giải quyết được vấn đề việc làm hoặc là vấn đề đào tạo nghề cho NLĐ nói chung. Song đối với vấn đề hỗ trợ học nghề cho NLĐ đang hưởng TCTN chưa thấy có công trình cũng như bài viết nào nghiên cứu về nội dung này. Do vậy, đề tài sẽ là hướng nghiên cứu mới góp phần giúp hoàn thiện công tác quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề cho đối tượng lao động hưởng BHTN tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội nói riêng và tại các trung tâm dịch vụ việc làm nói chung để đáp ứng yêu cầu và điều kiện thực tế.
Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề tại Trung tâm Dịch vụ việc làm 1. Bảo hiểm thất nghiệp BHTN là sự hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất thu nhập do thất nghiệp và hỗ trợ họ sớm quay trở lại thị trường lao động. Trong đó, có một số điểm cần nhấn mạnh: - Mức hỗ trợ thu nhập dựa trên cơ sở đóng góp của NLĐ trước khi bị thất nghiệp. Và nguồn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lấy từ quỹ BHTN.
7 - NLĐ tham gia BHTN, khi thất nghiệp sẽ được hỗ trợ về tư vấn giới thiệu việc làm, đào tạo nghề để có thể sớm tìm được việc làm, gia nhập lại thị trường lao động. Như vậy, bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ trong thời gian mất việc làm thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định. Quỹ BHTN là quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHTN, theo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, không vì mục đích lợi nhuận. Quỹ này được dùng để trợ cấp cho NLĐ bị thất nghiệp, nhằm đảm bảo ổn định đời sống cho họ và gia đình.
Hiện nay, chính sách BHTN ở Việt Nam đang được thực hiện theo bốn nội dung chính bao gồm: TCTN, Hỗ trợ giới thiệu việc làm, Hỗ trợ học nghề và Bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, do giới hạn về điều kiện nên trong phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ chỉ tập trung vào công tác quản lý hoạt động hỗ trợ học nghề cho NLĐ hưởng BHTN tại trung tâm dịch vụ việc làm. Hỗ trợ học nghề đối với người lao động hưởng bảo hiểm thất nghiệp Theo từ điển tiếng Việt “hỗ trợ” là sự giúp đỡ lẫn nhau làm giảm bớt khó khăn, bổ sung thêm những biện pháp giải quyết các vấn đề khó khăn. Các hoạt động hỗ trợ đối với các đối tượng là những NLĐ bị mất việc làm nhằm giúp đỡ đối tượng này có được việc làm ổn định cuộc sống đó là Nhà nước đưa ra các chính sách nhằm giúp NLĐ có được việc làm bằng cách thành lập các trung tâm dịch vụ việc làm, để giúp cho họ có thể tới đó trao đổi thông tin về việc làm và học nghề,.
giúp đỡ về kinh phí học nghề để dễ dàng tìm kiếm được việc làm mới, miễn phí tư vấn giới thiệu việc làm, họ không phải mất phí dịch vụ môi giới mà còn có cơ hội tiếp cận và lựa chọn nghề phù hợp. 8 Như vậy, có thể hiểu “hỗ trợ học nghề là các hoạt động của Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhằm tạo điều kiện cho NLĐ tham gia vào các lớp đào tạo nghề, học hỏi thêm các ngành nghề mới, mở ra các cơ hội việc làm mới, đồng thời giúp cho NLĐ có thể định hướng được nghề nghiệp, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp điều kiện, năng lực của bản thân từ đó ổn định đời sống, hạn chế tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp”. Hỗ trợ học nghề có thể là hỗ trợ về tài chính và hỗ trợ về tinh thần như hỗ trợ kinh phí cho NLĐ để học nghề, hỗ trợ các hệ thống dịch vụ để cung cấp các thông tin, hỗ trợ lao động các dịch vụ tư vấn miễn phí về nghề và học nghề,… Mục đích hỗ trợ đào tạo nghề là nhằm giúp cho NLĐ có được nhiều cơ hội lựa chọn ngành nghề, nhiều cơ hội có được việc làm, để ổn định đời sống, cũng như đáp ứng như cầu giải quyết về việc làm cho lao động thất nghiệp nói chung và lao động hưởng BHTN nói riêng. Điều kiện hỗ trợ học nghề Hỗ trợ học nghề là một phần trong chính sách BHTN nhằm tạo điều kiện cho NLĐ mất việc làm có cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp.
Tuy nhiên, không phải NLĐ nào khi mất việc làm cũng có thể được hỗ trợ học nghề.