CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Quan niệm về hộ tịch Theo Hán nôm từ hộ tịch được hiểu là: Hộ là nhà, cửa; Tịch là sổ sách ghi chép việc liên quan đến tình trạng nhân thân (thân trạng) của mỗi người theo mối quan hệ về gia đình trong các việc sinh, tử, kết hôn. Xét từ khía cạnh là một khái niệm pháp lý, khái niệm hộ tịch cũng là một trường hợp rất đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt.
Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, do khái niệm hộ tịch chứa đựng trong nó yếu tố truyền thống, lịch sử và đã là một khái niệm có tính chất phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế nó không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng nó với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa nó trong văn bản. Khái niệm “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Theo quy định tại điều 1, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-10-1998 về đăng ký hộ tịch có quy định: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
7 “Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ đăng ký hộ tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy hôn trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc những sự kiện khác do pháp luật quy định”. Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ Luật Dân sự năm 1995 cũng đã có quy phạm định nghĩa về khái niệm đăng ký hộ tịch tại Điều 54: “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch”. Đây là khái niệm khó định nghĩa một cách rõ ràng bằng ngôn ngữ Hán Việt, việc kết hợp giữa định nghĩa “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ về khái niệm “hộ tịch” vì “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”- đây là định nghĩa mở, theo đó chỉ có thể hiểu “những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người” là những sự kiện nào khi viện dẫn tới định nghĩa về “đăng ký hộ tịch”. Từ định nghĩa như trên, đăng ký về hộ tịch gồm các loại việc: - Đăng ký khai sinh; - Đăng ký khai tử; 8 - Đăng ký kết hôn (kể cả công nhận đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài); - Đăng ký giao nhận việc nuôi con nuôi (kể cả việc đăng ký cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi); - Đăng ký nhận con ngoài giá thú (kể cả việc đăng ký cho người nước ngoài nhận con ngoài giá thú là người Việt Nam); - Đăng ký giám hộ; - Đăng ký việc thay đổi họ tên, chữ đệm hoặc cải chính họ tên, chữ đệm ngày tháng năm sinh.
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 27-12- 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01-4-2006 thay thế Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch đã đưa ra định nghĩa hoàn thiện về “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi”. Với mỗi vấn đề hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó, gọi là giấy tờ về hộ tịch. Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế thân trạng của mỗi công dân.
9 Giấy tờ về hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Đó là cơ sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện hộ tịch. Do tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật có quy định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch. Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó.
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại điện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Do vậy, tất cả các loại giấy tờ về hộ tịch đều phải thống nhất với Giấy khai sinh của cá nhân người đó. Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch là hành vi bắt buộc không chỉ đối với công dân mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đặc điểm của hộ tịch Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người, bởi vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người. Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết. Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho người khác.
Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất. Do đó, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử). 10 Thứ ba, hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được thành tiền. Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1. Nguyên tắc quản lý nhà nước về hộ tịch Nguyên tắc quản lý nhà nước về Hộ tịch hiện nay được quy định tại điều 5 của Luật Hộ tịch: Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân. Hai là, mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong công tác quản lý hộ tịch.
Phạm vi quản lý của hoạt động quản lý hộ tịch là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân, có các thuộc tính: Ổn định, công khai, có khả năng phổ biến thông tin. Việc đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin này là cơ sở để công tác quản lý hộ tịch của Nhà nước được đầy đủ, hệ thống, chính xác, phản ánh đúng nhất sự phát triển, vận động của dân số xã hội. Ba là, Đối với những việc hộ tịch mà Luật này không quy định thời hạn giải quyết thì được giải quyết ngay trong ngày; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày tiếp theo. Áp dụng cho trường hợp khai sinh giai quyết trong ngày.
Bốn là, mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền. Nguyên tắc “đăng ký một nơi” thể hiện tính chất “duy nhất” của đặc điểm nhân thân từng cá nhân, đồng thời là cơ sở để bảo đảm thông qua hoạt động 11 quản lý hộ tịch, đặc điểm dân số, sự phát triển của dân số xã hội trong từng vùng miền, địa phương có sự phân biệt rõ ràng. Năm là,Mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử. Với nguyên tắc này, Nhà nước đòi hỏi các thông tin về quản lý hộ tịch phải được đảm bảo chính xác, điều này phù hợp với đặc điểm của đối tượng, phạm vi của quản lý hộ tịch là các đặc điểm nhân thân của từng cá nhân với các thuộc tính: Ổn định, công khai, có khả năng phổ biến thông tin.
Khi cập nhật vào dữ liệu thì không thể chỉnh sửa, nên khi lấy thông tin phải chính xác, việc chỉnh sửa phải thực hiện ở Bộ.