CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG THÔNG TIN BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG BÊN TRONG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hệ thống thống tin bảo đảm chất lượng bên trong tại trường đại học Hiện nay, những nghiên cứu về hệ thống thống tin (HTTT) bảo đảm chất lượng bên trong và quản lý hệ thống thống tin (QL HTTT) bảo đảm chất lượng bên trong trường đại học còn khá hạn chế, cho nên trong đề tài này tác giả xin khái quát về tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác QL chất lượng, bảo đảm chất lượng trường đại học, HTTT và QL HTTT trường đại học.1 Tình hình nghiên cứu về công tác bảo đảm chất lượng Được xem là cha đẻ của ngành kiểm soát chất lượng thống kê, Shewhart (1891- 1967) đã kết hợp thành công những nguyên tắc của thống kê, kỹ thuật, kinh tế và áp dụng lý thuyết thống kê vào công việc để giải quyết những yêu cầu của ngành công nghiệp. Vào năm 1939, ông viết cuốn “Phương pháp thống kê từ quan điểm kiểm soát chất lượng”. Trong cuốn sách này, lần đầu tiên ông thảo luận về khái niệm giải quyết vấn đề. Khái niệm này cuối cùng đã trở thành nền tảng cho chu trình: Lập KH - thực hiện - kiểm tra - tiến hành, QT bốn bước để cải tiến chất lượng.
Khái niệm này thường được biết đến dưới tên gọi là chu trình chất lượng Shewhart. Kế thừa những đóng góp của Shewhart là Deming (1900 – 1993), thể hiện niềm tin và sự công hiến của ông cho chất lượng trong suốt chiến tranh thế giới thứ 2 (1939 – 1945). Ông cho rằng “Chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi người” và ông đã biến thể chu trình của Shewhart thành chu trình Deming như sau: Lập KH – Thực hiện – Kiểm soát - Hành động. Khi nói đến chất lượng phải nhắc đến Feigenbaum (1922), người sáng tạo ra thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện và góp phần phát triển nó trong hơn 60 năm qua.
Ông viết cuốn sách bán chạy nhất của mình “Kiểm soát chất lượng toàn diện” cuốn sách mô tả những nguyên lý về chất lượng toàn diện, đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ và là đóng góp vĩ đại nhất trong sự nghiệp của Feigenbaum. 8 Juran (1904-2008) là một nhà tư vấn về QL chất lượng của thế kỷ 20. Ngoài mặt thống kê ông đã bổ sung thêm khía cạnh con người vào QL chất lượng. Ông cũng đã áp dụng Quy tắc Pareto, hay quy luật 80 – 20 vào chất lượng và vạch ra ba nhân tố QL chất lượng: lập KH, kiểm soát và cải tiến.
Vào năm 1951, chuyên luận chất lượng tiêu biểu của Juran được xuất bản lần đầu tiên, “Sổ tay về quản lý chất lượng” đã khẳng định chắc chắn danh tiếng của Juran là chuyên gia về lĩnh vực chất lượng, là tác giả và người đi đầu trong lĩnh vực QL chất lượng. Ishikawa (1915-1989) có lẽ được biết đến nhiều nhất gắn liên với Biểu đồ Xương cá hoặc Biểu đồ Nhân quả. Đây là một trong bảy công cụ chất lượng cơ bản, biểu đồ này chỉ ra nhiều nguyên nhân có thể nảy sinh của một vấn đề hay ảnh hưởng nào đó và thường được sử dụng ở giai đoạn động não và ông được coi là nhà tiên phong về chất lượng tại Nhật Bản. Trong quá trình nâng cao chất lượng GD, việc đánh giá chất lượng GD là điều không dễ dàng.
Do đó, đã có nhiều tổ chức bảo đảm chất lượng GDĐH quốc tế và khu vực ra đời nhằm thực hiện tốt việc kiểm định và đánh giá chất lượng GD. Vào những năm 90 của thế kỷ 20, các cơ quan bảo đảm chất lượng GDĐH của các nước đã thành lập Tổ chức Bảo đảm chất lượng Đại học Quốc tế - INQAAHE (International Network of Quality Assurance Agencies in Higher Education). Đây là một tổ chức mà các thành viên tham gia một cách tự nguyện và tuân thủ các tiêu chí mà tổ chức đề ra. Với nhiệm vụ kết nối các cơ quan kiểm định của các nước thành viên, cùng nhau điều phối, hỗ trợ về công tác kiểm định, đánh giá và xây dựng các tiêu chí bảo đảm chất lượng cũng như vạch ra KH hoạt động cho các cơ quan kiểm định của các nước thành viên (Tr.
Các trường đại học thuộc khối ASEAN cũng quan tâm nhiều đến công tác bảo đảm chất lượng, vào năm 1995 đã thành lập mạng lưới bảo đảm chất lượng đại học (AUN, hệ thống này gồm 05 nguyên tắc, 06 tiêu chí sử dụng cho các trường đại học của các nước là thành viên của khối ASEAN trong đó có Việt Nam (Tr. Tery Richarson đã tổng kết sự phát triển của các cấp độ QL chất lượng gồm: 1) Kiểm soát chất lượng (Quality Control) do Shewhart để xuất nhằm kiểm soát sản phẩm cuối cùng để phát hiện các khuyết tật và để ra biện pháp xử lý; 2) Kiểm soát quá 9 trình (Process Control) do Deming, Joseph Juran , Elton Mayo và WA Shewhart đề xuất nhằm phòng ngừa phát hiện sản phẩm kém chất lượng; 3) Bảo đảm chất lượng (Quality Assurance) do Deming, Juran và Ishikawa để xuất với luận điểm “hướng tới khách hàng”, tạo niềm tin bằng sự bảo đảm các yêu cầu về chất lượng; 4) Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) xuất phát từ kiểm soát chất lượng tổng thể (TQC - Total Quality Control) do Feigenbaum xây dựng (1945) kết hợp kiểm soát quá trình làm việc hiệu quả bằng thống kê (SPC Statistical Process control) do Deming đề xuất (1950) và QLCL (QM- Quality Management) do Juran đề xuất (1951). Bogue và Sanders (1992) cho rằng sản phẩm là sự phù hợp với những tuyên bố sứ mạng và kết quả đạt được của mục tiêu trong phạm vi các chuẩn mực được chấp nhận công khai (tr. Green (1994) cũng đồng quan điểm như vậy.
Các nhà nghiên cứu cũng có các trường phái lý thuyết khác nhau: West Burnham (1992) với công trình "QLCL trong nhà trường”, Dorothy Myers và Robert Stonihill (1993) với “QLCL lây nhà trường làm cơ sở”, Taylor và AEHill với “QLCL trong giáo dục” đã đưa ra những quan điểm và phương pháp vận dụng QLCL trong sản xuất vào QLCL trong GD. Green (1994), Sallis (1993) trong tác phẩm “Total Quality Management in Education” phù hợp với quan điểm coi chất lượng như là phương tiện để đánh giá các sản phẩm dịch vụ trong đó có sản phẩm qua GD đào tạo. Vào những năm cuối của thế kỷ 20 có nhiều tác giả như: Stalls (1993) viết về TQM trong GD; Harvey và Green (1993) về các khía cạnh thể hiện của chất lượng như sự xuất sắc, hoàn hảo, sự phù hợp và thể hiện giá trị; Stanley và Patrick (1998) về bảo đảm chất lượng trong GDĐH ở Hoa Kỳ và Anh Quốc; Austin (1985) về lý thuyết giá trị gia tăng trong GD và các nghiên cứu về ứng dụng TQM trong GD của Juran. Những năm gần đây, QL chất lượng tổng thể đã được áp dụng vào GD ở một số nước phát triển trên thế giới như Anh, Pháp, Hà Lan, Hoa Kỳ… nhằm tạo ra một văn hóa chất lượng và trách nhiệm của mỗi thành viên trong một nhà trường phải cố gắng hết sức mình, đáp ứng tối đa yêu cầu học tập của SV và nhu cầu cấp bách của xã hội.
Mô hình TQM chỉ có thể đạt được khi mọi người có ý thức nâng cao chất lượng thông qua nhận thức khái niệm và các công cụ đo lường, đánh giá chất lượng. 10 Ở Việt Nam, các giai đoạn phát triển QLCL đào tạo đại học được phát triển theo tiến trình như sau: Bảo đảm chất lượng qua tuyển chọn chất lượng đầu vào Vào giữa thập niên 1980, GDĐH Việt Nam cơ bản là GD tinh hoa, trường ĐH- CĐ do Nhà nước đầu tư và QL. SV được xem là ưu tú và được chọn lọc khắt khe. Có thể nói, trong một thời gian dài, hệ thống GDĐH Việt Nam đã quan niệm QL chất lượng GD đồng nghĩa với việc kiểm soát đầu vào thông qua các kì thi tuyển mang tính cạnh tranh cao độ.
Trong giai đoạn này, bảo đảm chất lượng được thực hiện chủ yếu bằng kiểm soát chất lượng (Quality Control). Việc kiểm soát chất lượng thông qua hệ thống chỉ đạo chuyên môn, thanh-kiểm tra nhằm giám sát những hoạt động cốt lõi. Hệ quả với hệ thống QL tập trung quan liêu-bao cấp chỉ nhấn mạnh việc phát hiện và xử phạt những vi phạm quy định và chuẩn mực sẵn có, không đặt ra mục tiêu tìm hiểu để cải thiện liên tục và toàn diện nhằm đáp ứng ngày càng cao những nhu cầu thiết thực của xã hội. Bảo đảm chất lượng qua các nguồn lực Từ khi GDĐH tại Việt Nam đổi mới, nhiều biện pháp được thực hiện như việc thành lập các trường đại học dân lập, việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ … và số lượng SV cũng tăng lên đột biến.
Trong giai đoạn này, GDĐH ở Việt Nam chỉ chú trọng đến việc tăng cường nguồn lực (chủ yếu thông qua học phí do người học đóng góp và kinh phí cấp từ ngân sách nhà nước), mà chưa quan tâm đúng mức đến vai trò quan trọng của cơ chế, năng lực lãnh đạo và QL của toàn hệ thống và các trường đại học. Với quan điểm “Phiến diện” là xem chất lượng đồng nghĩa với nguồn lực đầy đủ thông qua việc đầu tư ngân sách cho các đại học công lập, chưa có một cơ chế hoàn chỉnh để giám sát và đánh giá hiệu quả thiết thực của việc “đầu tư ngân sách” này và hệ quả chất lượng GD ngày càng giảm sút. Bảo đảm chất lượng qua đáp ứng tiêu chuẩn Vào năm 2004, một bước ngoặt quan trọng trong QL chất lượng đào tạo đại học Việt Nam với nhiều văn bản QL nhà nước được ban hành, đã khẳng định rõ chủ 11 trương đổi mới QL bằng cách áp dụng kiểm định chất lượng. Đến nay, lần đầu tiên trong lịch sử GD, Việt Nam đã có bộ tiêu chuẩn rõ ràng, minh bạch, cơ bản xác định được các yêu cầu chất lượng liên quan đến sứ mạng, mục tiêu, cơ cấu, điều kiện nguồn lực, các mặt hoạt động của một trường đại học của Việt Nam.
Việc ban hành bộ tiêu chuẩn để QL chất lượng trường đại học là một bước đột phá trong tư duy QL GD Việt Nam, cho thấy quyết tâm hội nhập của ngành GD đào tạo sẽ đem lại những thay đổi tích cực cho vấn đề chất lượng GD đào tạo đại học trong thời gian tới. Nghiên cứu về QL chất lượng trong GD đào tạo ở Việt Nam từ trước đến nay là một vấn đề mới, luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.