Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo ngành kiến trúc theo tiếp cận TQM

Luận án tiến sĩ phân tích quản lý chất lượng đào tạo ngành kiến trúc theo tiếp cận TQM tại trường đại học xây dựng, đề xuất giải pháp cải tiến.

Trường đại học

Trường Đại học Xây dựng

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

272
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu của luận án

1.3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học

1.5. Nội dung và phạm vi nghiên cứu

1.6. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.7. Luận điểm bảo vệ

1.8. Những đóng góp mới của luận án

1.9. Nơi thực hiện đề tài nghiên cứu

1.10. Bố cục của luận án

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH KIẾN TRÚC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN TQM

2.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

2.2. Chất lượng, quản lý chất lượng và vận dụng trong đào tạo đại học

2.3. Các cấp độ của quản lý chất lượng và vận dụng trong đào tạo đại học

2.4. Mô hình đảm bảo chất lượng

2.5. Mô hình văn hoá chất lượng

2.6. Đánh giá chung và vấn đề tiếp tục nghiên cứu

2.7. TQM và vận dụng trong quản lý chất lượng đào tạo

2.8. Khái niệm về TQM và vận dụng trong quản lý chất lượng đào tạo

2.9. Bản chất của TQM và vận dụng trong quản lý chất lượng đào tạo

2.10. Đặc trưng của TQM và vận dụng trong quản lý chất lượng đào tạo

2.11. Đào tạo đại học ngành Kiến trúc

2.12. Nội dung về chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

2.13. Văn hoá chất lượng trong đảm bảo chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc

2.14. Hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học

3. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH KIẾN TRÚC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN TQM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

3.1. Khái quát về Trường Đại học Xây dựng

3.2. Sứ mạng, mục tiêu

3.3. Cơ cấu tổ chức

3.4. Các chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và đối ngoại

3.5. Đội ngũ giảng viên, nhân viên

3.6. Quy mô và kết quả đào tạo

3.7. Thực trạng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học tại Trường Đại học Xây dựng

3.8. Thực trạng đầu vào của sinh viên ngành Kiến trúc

3.9. Thực trạng chương trình và nội dung đào tạo

3.10. Thực trạng tổ chức và các hình thức đào tạo ngành Kiến trúc

3.11. Thực trạng năng lực đội ngũ giảng viên giảng dạy ngành Kiến trúc

3.12. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và đồ án tốt nghiệp ngành Kiến trúc

3.13. Thực trạng các điều kiện thực hiện quá trình đào tạo

3.14. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng

3.15. Nội dung, công cụ và phương pháp

3.16. Đối tượng và qui mô khảo sát

3.17. Thực trạng về chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học theo tiếp cận TQM tại Trường Đại học Xây dựng

3.18. Thực trạng sứ mạng, giá trị, chiến lược và mục tiêu phát triển chương trình đào tạo ngành Kiến trúc

3.19. Thực trạng văn hoá chất lượng

3.20. Thực trạng hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong

3.21. Thực trạng tự đánh giá, hệ thống thông tin về đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo

3.22. Thực trạng tổ chức phát triển chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo

3.23. Thực trạng đảm bảo chất lượng tuyển sinh và nhập học

3.24. Thực trạng đảm bảo chất lượng các điều kiện đảm bảo

3.25. Thực trạng đảm bảo chất lượng quá trình đào tạo

3.26. Thực trạng năng lực nâng cao chất lượng và tham gia

4. THỰC TRẠNG VỀ KẾT QUẢ ĐẦU RA, MỨC ĐỘ HÀI LÒNG, HỆ THỐNG VÀ CÔNG CỤ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG, VÀ PHẢN HỒI THÔNG TIN

4.1. Đánh giá chung về thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học theo tiếp cận TQM

5. GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH KIẾN TRÚC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN TQM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

5.1. Định hướng phát triển đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học

5.2. Nguyên tắc đề xuất giải pháp

5.3. Đảm bảo tính khoa học

5.4. Đảm bảo tính hệ thống

5.5. Đảm bảo tính kế thừa

5.6. Đảm bảo tính thực tiễn và khả thi

5.7. Giải pháp quản lý chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM tại Trường Đại học Xây dựng

5.8. Đề xuất bộ tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo đo/đánh giá chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học theo tiếp cận TQM

5.9. Phát triển văn hoá chất lượng dẫn dắt thực hiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

5.10. Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của chương trình đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

5.11. Quy trình tự đánh giá và cải tiến liên tục chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

5.12. Phát triển môi trường tham dự và quản lý phát triển hệ thống giao tiếp thông tin hai chiều phục vụ cho đảm bảo chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

5.13. Tổ chức nâng cao năng lực đảm bảo chất lượng đào tạo đại học ngành Kiến trúc theo tiếp cận TQM

5.14. Mối quan hệ giữa các giải pháp đề xuất

5.15. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất

5.16. Thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn đo/đánh giá chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo ngành Kiến trúc trình độ đại học theo tiếp cận TQM tại Trường Đại học Xây dựng

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý chất lượng đào tạo kiến trúc theo TQM

Quản lý chất lượng đào tạo kiến trúc theo TQM (Quản lý chất lượng tổng thể) tại trường đại học là một phương pháp tiếp cận hiện đại nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. TQM không chỉ tập trung vào việc kiểm soát chất lượng mà còn nhấn mạnh vào việc cải tiến liên tục và sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Việc áp dụng TQM trong đào tạo kiến trúc giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu của xã hội. Theo đó, quản lý chất lượng không chỉ là trách nhiệm của giảng viên mà còn là sự tham gia của sinh viên, nhà tuyển dụng và các bên liên quan khác. TQM tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới trong giảng dạy và học tập.

1.1. Khái niệm và vai trò của TQM trong giáo dục

TQM là một triết lý quản lý tập trung vào việc cải tiến chất lượng trong mọi khía cạnh của tổ chức. Trong bối cảnh giáo dục, TQM giúp các trường đại học xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng hiệu quả, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo. TQM khuyến khích sự tham gia của tất cả các thành viên trong tổ chức, từ ban giám hiệu đến giảng viên và sinh viên. Điều này tạo ra một văn hóa chất lượng mạnh mẽ, nơi mọi người đều có trách nhiệm trong việc đảm bảo và cải tiến chất lượng. TQM cũng giúp các trường đại học đáp ứng nhanh chóng với những thay đổi trong nhu cầu của thị trường lao động, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

II. Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo kiến trúc tại Trường Đại học Xây dựng

Trường Đại học Xây dựng là một trong những cơ sở đào tạo hàng đầu về kiến trúc tại Việt Nam. Tuy nhiên, thực trạng quản lý chất lượng tại đây vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Các chương trình đào tạo chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, và việc đánh giá chất lượng đào tạo còn thiếu tính hệ thống. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp với chuyên môn. Để cải thiện tình hình này, cần có một hệ thống đánh giá chất lượng rõ ràng và hiệu quả hơn, đồng thời tăng cường sự tham gia của các bên liên quan trong quá trình đào tạo.

2.1. Đánh giá chất lượng đào tạo hiện tại

Đánh giá chất lượng đào tạo tại Trường Đại học Xây dựng hiện nay chủ yếu dựa vào các tiêu chí như tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, mức độ hài lòng của sinh viên và nhà tuyển dụng. Tuy nhiên, các tiêu chí này chưa phản ánh đầy đủ chất lượng thực tế của chương trình đào tạo. Cần thiết phải xây dựng một bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng toàn diện hơn, bao gồm cả các yếu tố như khả năng làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp, sự phù hợp của chương trình đào tạo với nhu cầu thực tế của thị trường. Việc áp dụng TQM sẽ giúp cải thiện quy trình đánh giá này, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục tại trường.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kiến trúc theo TQM

Để nâng cao chất lượng đào tạo kiến trúc theo TQM, Trường Đại học Xây dựng cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng toàn diện, bao gồm việc thiết lập các tiêu chí đánh giá rõ ràng và cụ thể cho từng chương trình đào tạo. Thứ hai, cần tăng cường sự tham gia của sinh viên và các bên liên quan trong quá trình đánh giá và cải tiến chất lượng. Cuối cùng, cần tổ chức các khóa đào tạo cho giảng viên về phương pháp giảng dạy và quản lý chất lượng theo TQM, nhằm nâng cao năng lực giảng dạy và quản lý tại trường.

3.1. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng

Hệ thống quản lý chất lượng cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí rõ ràng và cụ thể, bao gồm cả việc đánh giá chất lượng giảng dạy, chất lượng chương trình đào tạo và chất lượng đầu ra của sinh viên. Cần thiết phải có một bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng toàn diện, từ đó giúp các giảng viên và sinh viên có thể tự đánh giá và cải tiến chất lượng học tập và giảng dạy. Việc áp dụng TQM sẽ giúp tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mọi người đều có trách nhiệm trong việc đảm bảo và cải tiến chất lượng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGÀNH KIẾN TRÚC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN TQM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Chất lượng, quản lý chất lượng và vận dụng trong đào tạo đại học a) Chất lượng và vận dụng trong ĐTĐH.

Theo Pfeffer và Coote (1991) [64], hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau và chưa có được cách hiểu chính xác về CL, tuy nhiên, khái quát, CL có thể được hiểu [9; 68 và 69]: - Chất lượng theo nghĩa tuyệt đối của cái gì đó chính là các thuộc tính hay bản chất của nó, cái vốn dĩ của mỗi sự vật, tồn tại khách quan và mọi người phải thừa nhận. - Chất lượng theo nghĩa tương đối xem xét CL là cái mà con người gán “nhãn” cho nó, nên sẽ khác nhau nằm trong khoảng từ “kém CL”, “CL tốt” đến “CL hoàn hảo” hay “tuyệt vời”. - Chất lượng thực tế được hiểu là CL của sản phẩm hay dịch vụ được đo hay đánh giá được theo một chuẩn mực/tiêu chí CL được xây dựng dựa trên các yêu cầu của thị trường hay mong muốn của khách hàng. - Chất lượng biến đổi tập trung vào cải tiến liên tục phù hợp với bối cảnh, nên CL được xem là một quá trình phức tạp và rộng hơn, tập trung vào các mặt mềm hơn và khó nhìn hơn của CL như: sự chăm sóc, quan tâm, dịch vụ khách hàng và trách nhiệm xã hội.

Như vậy, khi nói đến CL thường liên quan đến CL của sản phẩm và/hay dịch vụ, trong đó, dịch vụ chủ yếu gồm các giao tiếp trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng cuối cùng, nên luôn tồn tại các mối quan hệ chặt chẽ và gần gũi giữa khách hàng và tổ chức/cá nhân cung cấp dịch vụ; và khách hàng là người “phán xét” cuối cùng. Thực tế, thường rất khó khăn để đo/đánh giá trực tiếp thành công của đầu ra, kết quả đầu ra và hiệu quả, hiệu suất, tác động trong việc cung cấp các dịch vụ, nên thường phải đo/đánh giá gián tiếp thông qua các chỉ số để đo/đánh giá sự thỏa mãn hay hài lòng của khách hàng với dịch vụ (người hưởng dịch vụ GD/ĐTĐH). Hơn nữa, do ĐTĐH không thể tạo ra một loạt những nhân cách giống hệt nhau, vì vậy, cần xem xét CL trong ĐTĐH như là CL của dịch vụ hơn là sản phẩm, với yêu cầu cần kết hợp sự tham dự của tất cả các bên liên quan, như: quan chức chính phủ, gia đình người học, người học và với các DoN hay bên SDLĐ. luan an 8 b) Quản lý CL và vận dụng trong ĐTĐH.

Khác với QL truyền thống, QLCL thực chất là xây dựng và vận hành dựa trên các tiêu chuẩn gắn với hệ thống QL này bao gồm các phương pháp hoặc quy trình tác động tới tất cả các khâu của quá trình nhằm tạo ra CL. Vận dụng trong ĐTĐH, có thể hiểu QLCL trong ĐTĐH được xem là hệ thống, bao gồm các cơ chế và các quy trình, được sử dụng để ĐBCL thông qua liên tục cải tiến CL hoạt động của CSĐT/CTĐT ĐH [9]. Mục tiêu của QLCL trong ĐTĐH là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải tiến liên tục và phát triển các hoạt động hay quá trình và kết quả ĐT, theo cách lôi cuốn và làm hài hòa các nỗ lực của tất cả các bên liên quan trong và ngoài CSĐT/CTĐT để phát huy hết năng lực với lòng nhiệt tình của họ để thực hiện công việc được tốt hơn. Theo Osanna, Durakbasa, Hornikova và Gabko (2008) có 07 nguyên tắc QLCL trong ĐTĐH: (1) CSĐT/CTĐT được dẫn dắt bởi khách hàng, nên phải phụ thuộc vào các nhu cầu hiện tại và tương lai và luôn cố gắng vượt quá các mong đợi của họ; (2) Cần lãnh đạo mọi người xây dựng được môi trường lành mạnh đảm bảo lôi cuốn tất cả các bên liên quan tham dự tích cực để đạt tới các mục tiêu của hệ CSĐT/CTĐT; (3) Để đạt tới hiệu quả hơn khi các hoạt động và nguồn lực liên quan được định hướng QL như một quá trình; (4) Lãnh đạo và QL cần được tiếp cận như một hệ thống các quá trình quan hệ với nhau để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững CSĐT/CTĐT; (5) Cải tiến liên tục là mục tiêu vĩnh cửu của CSĐT/CTĐT; (6) Các quyết định chỉ có hiệu quả khi được tiếp cận dựa vào thực tế, dựa trên phân tích dữ liệu và thông tin logic và trực giác; và (7) Quan hệ các bên cung cấp dịch vụ ĐTĐH cùng loại cùng có lợi để nâng cao khả năng và năng lực của tất các các bên tham gia [60].

Các cấp độ của quản lý chất lượng và vận dụng trong đào tạo đại học Quản lý CL nói chung và QLCL CTĐT được hình thành và phát triển trong quá trình phát triển hệ thống QLCL: Kiểm soát CL, ĐBCL và TQM (Hình 1.1) [9; 20; và 69]: a) Kiểm soát CL (Quality control) xuất hiện vào những năm 20 của thể kỷ 20 do W. Shewhart đề xuất phương pháp kiểm soát CL trong các xí nghiệp. Đây là hoạt động đánh giá sự phù hợp của sản phẩm so với yêu cầu, so sánh mức độ đạt được so với chuẩn thông qua việc cân đo, thử nghiệm. Mục đích: Kiểm soát sản phẩm ở khâu cuối cùng để phát hiện ra các khuyết tật và đề ra giải pháp để xử lý các sản phẩm đó.

Kiểm soát CL nhằm loại bỏ các sản phẩm cuối cùng không đạt chuẩn hoặc làm lại nếu có thể. luan an 9 Nội dung: Kiểm tra tất cả các sản phẩm đầu ra so với chuẩn CL đã đề ra để phát hiện những sản phẩm không đạt yêu cầu thì bị loại bỏ và thành phế phẩm, những sản phẩm đạt CL thì được đưa ra thị trường. Như vậy kiểm soát CL là bước cuối cùng của quá trình sản xuất và kết quả chỉ là đảm bảo được CL của sản phẩm cuối cùng, nên cần phải chi phí lớn về vật chất, thời gian, nhân lực để kiểm tra từng sản phẩm, cũng như hao tổn nguyên vật liệu do có phế phẩm, do đó làm giảm sức cạnh tranh của DoN. Hệ thống các cấp độ QLCL Vận dụng vào ĐTĐH, thanh tra và kiểm tra là các phương pháp chung nhất của kiểm soát CL thường được sử dụng rộng rãi để xác định xem các chuẩn mực CL có được đáp ứng hay không.

Đó chính là các kì thi, đánh giá cấp chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp. Tuy nhiên, ĐTĐH không được phép tạo ra phế phẩm, người học thi chưa đạt chuẩn thì chưa được cấp bằng tốt nghiệp, nhưng có thể học lại hoặc cũng có thể vào thị trường lao động với trình độ thấp hơn. Các chuẩn mực CL trong ĐTĐH thường được các cấp QLGD xây dựng và ban hành để kiểm soát và thanh tra việc thực hiện của các CSĐT ĐH. b) Đảm bảo CL (Quality Assurance - QA) xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ 20 do Deming, Juran, và Ishikawa đã nghiên cứu và kế thừa đưa ra luận điểm “hướng tới khách hàng” và ĐBCL theo quá trình.

Mục đích nhằm minh chứng cho khách hàng về CL sản phẩm/dịch vụ để tạo niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ của mình. Nội dung: Khác với kiểm soát CL, ĐBCL xảy ra trước và trong quá trình sản xuất hay cung cấp dịch vụ để ngăn chặn hay phòng ngừa các lỗi hay khiếm khuyết xảy ra ngay từ đầu. Vì vậy, đòi hỏi phải thiết kế CL theo hệ thống hay luan an 10 các quá trình để cố gắng đảm bảo sản phẩm/dịch vụ được cung cấp theo đúng các tiêu chí CL được xác định từ trước. Vận dụng vào ĐTĐH, đó là quá trình kiểm định các điều kiện ĐBCL ĐT như: nội dung chương trình, GV; tổ chức quá trình ĐT; CSVC và phương tiện dạy học/ĐT; tài chính cho ĐT… c) Quản lý CL tổng thể (TQM): Tổng kết những kinh nghiệm và kế thừa tính ưu việt của các tiến trình phát triển ĐBCL, WE.

Deming, Crosby, Ohno, Armand V. Feigenbaum đã phát triển lên cung bậc mới đó là TQM, được xuất hiện vào những năm 80 của thế kỷ 20 và ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và lan sang cả lĩnh vực ĐTĐH. Mục đích nhằm không ngừng nâng cao CL nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. TQM nhằm mục đích đảm bảo cung cấp cho khách hàng - “thượng đế” - cái gì họ muốn, khi nào họ muốn và muốn nó như thế nào không chỉ trong hiện tại mà còn hướng đến những mong đợi của khách hàng trong tương lai.

Triết lý của QLCL tổng thể đã được hình thành như sau: CL là kết quả tổng thể của mọi yếu tố, mọi hoạt động của cả quá trình làm ra sản phẩm; Tiềm năng và sức sáng tạo của mỗi con người tạo ra CL; CL là một hành trình không phải là điểm kết thúc và thay đổi văn hóa tổ chức là trọng tâm. Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển của mình, QLCL đã được chuyển từ QLCL sản phẩm hay dịch vụ sang QLCL của CSĐT hay CSĐT làm ra các sản phẩm và/hay dịch vụ với triết lý: một tổ chức có CL thì sản phẩm của nó sẽ có CL. Mô hình đảm bảo chất lượng Dưới đây là một số mô hình ĐBCL phổ biến liên quan đến ĐTĐH: a) Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Element Model) tập trung vào ĐBCL theo quá trình ĐTĐH, gồm [49]: (1) Đầu vào liên quan đến các qui định về: CL/trình độ người học nhập học, CTĐT, GV, CSVC, phương tiện ĐT, tài chính…; (2) Quá trình ĐT: Mức độ đáp ứng yêu cầu liên quan đến phương pháp và qui trình ĐT. và các quá trình liên quan khác…; (3) Kết quả ĐT: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của người học, kết quả tốt nghiệp.; (4) Kết quả đầu ra: Mức độ đáp ứng về năng lực với vị trí việc làm hoặc học tiếp theo sau tốt nghiệp của người học; và (5) Hiệu quả/Tác động: Kết quả của ĐTĐH và ảnh hưởng với xã hội.

b) Mô hình EFQM (European Foundation for Quality Management): Tổ chức QLCL Châu Âu (EFQM) thành lập năm 1989 và Giải thưởng EFQM Excellence Award dành cho các DoN, cơ quan có cách tổ chức, QL xuất sắc luan an 11 nhất, đã nhanh chóng giúp họ xác lập uy tín. Mô hình DoN kiểu mẫu của EFQM hiện nay đang được áp dụng tại hơn 30.000 công ty, cơ quan trên thế giới. Tỷ trọng đánh giá của EFQM tập trung vào: Các yếu tố tác động (Lãnh đạo 10%; Chính sách và chiến lược 8%; Nguồn lực 9%; QL nhân sự 9%; Quá trình 14%) và Các yếu tố kết quả (Hài lòng của NV 9%; Hài lòng của khách hàng 20%; Tác động với xã hội 6%; Thành tích 15%).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về quản lý chất lượng đào tạo ngành kiến trúc theo tiếp cận TQM" của tác giả Nguyễn Trung Thành, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Tiến Hùng và TS. Nguyễn Thanh Tùng, được thực hiện tại Trường Đại học Xây dựng vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc áp dụng các nguyên tắc của quản lý chất lượng toàn diện (TQM) trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ngành kiến trúc. Nó không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp quản lý giáo dục mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện quy trình đào tạo, từ đó nâng cao năng lực của sinh viên trong lĩnh vực kiến trúc.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và chất lượng đào tạo, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về chính sách tạo động lực cho giáo viên trung học cơ sở ở Việt Nam", nơi nghiên cứu về động lực làm việc của giáo viên, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, "Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại trường trung cấp Phật học tỉnh Đồng Nai" cũng cung cấp những biện pháp quản lý hiệu quả trong giáo dục, có thể áp dụng cho các cơ sở đào tạo khác. Cuối cùng, "Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường trung cấp kinh tế kỹ thuật Cà Mau" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, từ đó góp phần vào việc cải thiện chất lượng đào tạo trong ngành giáo dục.