Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH THEO TIẾP CẬN AUN-QA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục, CLĐT là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm, bất kể là các nước phát triển hay đang phát triển. Nâng cao CL GD trở thành nhu cầu bức thiết của mỗi quốc gia, khu vực và toàn thế giới.
Năm 1998, Luis Eduarda Gonzalez đã đưa ra quan niệm về CL trong các trường ĐH bao gồm hệ thống 5 nhân tố: phù hợp (Relevance), hiệu quả (Efficiency), nguồn lực (Resources), hiệu suất và quá trình. Trong các nhân tố được đưa ra, theo tác giả phù hợp là nhân tố quan trọng nhất, quyết định nhất trong CL GD. Trong chương trình hành động của Unesco về giáo dục ĐH, sự phù hợp này cũng được nhấn mạnh như sau: “Khả năng của hệ thống giáo dục và của những cơ sở GD&ĐT trong việc đáp ứng những nhu cầu đặt ra của cộng đồng, của địa phương, của đất nước, đó cũng là sự đáp ứng của giáo dục trước những yêu cầu của một thế giới mới với tầm nhìn, công cụ và cách thức hành động đã và đang tiếp tục thay đổi” [37]. Trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định mục tiêu chiến lược GD&ĐT đến năm 2020 là: đổi mới căn bản và toàn diện GD ĐH, tạo chuyển biến cơ bản về CL, hiệu quả và quy mô đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân.
Định hướng đến năm 2020 giáo dục ĐH Việt Nam đạt trình độ trong khu vực và tiếp cập trình độ tiên tiến của ĐH trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng XHCN [17]. Xuất phát từ mục tiêu đó, nâng cao CL của nền giáo dục quốc dân trở thành công việc thường xuyên của các cơ sở đào tạo ĐH và cơ quan QL giáo dục. Tại Thông tư số 04/2016/TT-BGDĐT ngày 14/03/2016 của Bộ GD&ĐT, đã ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá CL chương trình đại học các trình độ giáo dục ĐH gồm 53 tiêu chí thuộc 10 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lĩnh vực và là bộ tiêu chí kiểm định CL ĐH đầu tiên của Việt Nam, được thí điểm cho 20 trường ĐH [6]. Cùng với xu thế quan tâm đến CL giáo dục của thế giới, từ năm 2000 đến nay, ở Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được thực hiện.
Tiêu biểu phải kể đến công trình: “Nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá CLĐT dùng cho các trường ĐH Việt Nam” của Trung tâm ĐBCL ĐT và nghiêu cứu phát triển giáo dục thuộc ĐH Quốc gia Hà Nội năm 2000. Công trình đã xây dựng được Bộ tiêu chí đánh giá CL và điều kiện đảm bảo CL ĐT dùng cho các trường ĐH Việt Nam bao gồm 26 tiêu chí thuộc 6 lĩnh vực hoạt động của trường [50]. Công trình “Cơ sở lý luận và thực tiễn về CL giáo dục và đánh giá CL giáo dục” của Nguyễn Hữu Châu (2006) do Viện chiến lược và chương trình giáo dục Bộ GD&ĐT triển khai nghiên cứu đã xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá CL để các cơ sở giáo dục tham khảo xây dựng hệ thống đánh giá CL và từng bước hoàn thiện quy trình đánh giá CL của cơ sở mình [24]. Vấn đề CL và CL ở các cơ sở ĐT cũng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà giáo, nhà khoa học giáo dục.
Đến nay, đã có nhiều tác giả, nhà khoa học cho xuất bản giáo trình, tài liệu về CL giáo dục, tiêu biểu phải kể đến: “Quản lý chất lượng ĐH” của tác giả Phạm Thành Nghị xuất bản năm 2000 [41]; tác giả Nguyễn Đức Chính với cuốn sách “Kiểm định CL trong giáo dục ĐH” (2002) [22]; “Đánh giá CL trong giáo dục” (2008) [23]; các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo với cuốn: “Quản lý giáo dục” (2006) [30]. Các công trình kể trên, dù có cách tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản đều bàn đến khái niệm: CL, CL giáo dục ĐH, trong đó thống nhất khái niệm CL là sự phù hợp với mục tiêu. Không chỉ có những công trình nghiên cứu về lý luận mà còn nhiều nghiên cứu về thực tiễn của các nhà khoa học, nhà giáo, nhà QL đã đề cập CL giáo dục, giải pháp nâng cao CL tại các cơ sở giáo dục như: Tác giả Nguyễn Hữu Châu với các công trình “Cơ sở lý luận và thực tiễn về CL giáo dục”, “Đánh giá CL giáo dục” (2006); Chất lượng giáo dục - Những vấn đề lý luận và thực tiễn (2008) [24], [25], [26]. Bùi Mạnh Nhị (2006) với “Những giải pháp cơ bản nâng cao CL giáo dục ĐH” [38].
Các tác giả đã chỉ ra thực trạng CL của nền giáo dục Việt Nam, đặc biệt là giáo dục ĐH, đồng thời nêu rõ nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng ấy, và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao CL giáo dục. Theo họ phải xây dựng được một hệ thống các tiêu chí để đánh giá CL của các cơ sở giáo dục, phải có sự kế thừa các mô hình ĐBCL của các nước tiên tiến trên thế giới vận dụng linh hoạt với hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam và đối với đặc thù từng cơ sở, bên cạnh việc QL chặt chẽ các khâu trong quá trình QLCL giáo dục. Các công trình nghiên cứu về quản lý chất lượng và quản lý chất lượng trong các cơ sở đào tạo Đại học 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý chất lượng Quản lý chất lượng xuất hiện lần đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh và được các nhà QL quan tâm đến từ đầu thế kỷ XX.
Vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX, bộ phận KSCL của tập đoàn Western Electric do Walter Shewhart lãnh đạo đã lập ra hệ thống KSCL bằng những công cụ thống kê (Statistical Quality Control - SQC). Sau năm 1945, hai chuyên gia về CL người Mỹ là Ed. Juran đã giới thiệu kỹ thuật SQC cho các công ty Nhật Bản. Việc sử dụng phương pháp đo lường CL kể trên, đã mang tới những thành công ngoài sức mong đợi cho nhiều ngành công nghiệp tại Nhật Bản (Nhật là nước sản xuất hàng hoá điện tử có số lượng nhiều nhất cung cấp cho thị trường Châu Âu, đặc biệt là nước Anh).
Đồng thời, có ảnh hưởng sâu rộng tới phong trào QLCL ở nhiều nước trên thế giới. Từ đó, rất nhiều nghiên cứu về mô hình QLCL đã ra đời. * Mô hình quản lý chất lượng theo ISO 9000:2000 [66] Với quan điểm các cơ sở ĐT là một loại hình dịch vụ, một số nước đã áp dụng mô hình QLCL theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000 với yêu cầu cơ bản là hình thành ở các cơ sở ĐT hệ thống QLCL theo những nguyên tắc sau: - Chất lượng sản phẩm ĐT là do hệ thống quản trị CL quyết định. - Phải thực hiện đúng từ đầu đến cuối quy trình.
Làm đúng từ đầu sẽ cho CL sản phẩm ĐT tốt nhất, tiết kiệm nhất, chi phí thấp nhất và hiệu quả cao nhất. - Đề cao phương thức QL theo quá trình, lấp phòng ngừa là chính ở mọi khâu tác nghiệp với nhiều giải pháp được tiến hành thường xuyên thông qua các công cụ hữu hiệu như: Kiểm tra CL bằng thống kê, tự kiểm tra, giám sát theo các chuẩn mực. - Tăng cường CL, hiệu quả quản trị với hai phương pháp là quản trị mục tiêu và quản trị quá trình. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thực hành QLCL theo ISO là quá trình tuân thủ chặt chẽ theo các yêu cầu sau: viết những gì đã làm, làm những gì đã viết, kiểm tra những việc đang làm so với những gì đã viết trong hồ sơ.
- Xem xét lại hệ thống một cách thường xuyên. Cải tiến liên tục Hệ thống QLCL Thoả mãn nhu cầu Trách nhiệm lãnh đạo khách hàng Khách hàng và các bên Quản lý Kế hoạch quan tâm Yêu cầu đặt Quá trình gia công hàng Sản phẩm đầu ra Nguồn: ISO (2000) [66] Hình 1. Quy trình quản lý chất lượng theo ISO 9000:2000 Bản chất của mô hình ISO 9000:2000 là một hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, bảo đảm mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra “phù hợp với mục đích”. ISO 9000:2000 đưa ra kỷ luật nghiêm ngặt đối với những người sử dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian.
Mọi người trong quá trình thực hiện phải nắm được các yêu cầu và tuân thủ quy trình một cách đầy đủ. Một trong những quan điểm cơ sở của ISO 900:2000 là hệ thống CL phải có khả năng tạo ra các sản phẩm có CL nhất quán. Mô hình này có những bước phát triển quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích trong sản xuất. Năm 1995, Russo đã giới thiệu mô hình ISO vào lĩnh vực giáo dục ĐH [73].
Ở đây, mô hình đòi hỏi phải xây dựng các tiêu chí thích hợp với sản phẩm của giáo dục là người học được lấp đầy kiến thức mà người dạy truyền đạt trong quá trình giáo dục và rèn luyện kỹ năng. Tuy nhiên, điều này khó thực hiện trong giáo dục ĐT nên việc áp dụng ISO 9000:2000 ở các nhà trường chỉ có thể hiệu quả trong QL hành chính giáo dục và QLCL ĐT. * Mô hình các yếu tố tổ chức [42] Đây là mô hình QLCL có thể áp dụng khá phù hợp trong lĩnh vực ĐT. Theo mô hình có 5 yếu tố được tham gia vào quá trình đánh giá đó là: đầu vào, quá trình 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐT, kết quả ĐT, đầu ra và hiệu quả ĐT.
- Đầu vào: SV, cán bộ trong trường, cơ sở vật chất, chương trình ĐT, quy chế, tài chính… - Quá trình ĐT: Phương pháp và quy trình ĐT, QL ĐT. - Kết quả ĐT: Mức độ hoàn thành khóa học, năng lực đạt được và khả năng thích ứng của SV. - Đầu ra: SV tốt nghiệp, kết quả nghiên cứu và các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu kinh tế và xã hội. - Hiệu quả: Kết quả của giáo dục ĐH và ảnh hưởng với xã hội.