Quản lý hoạt động vui chơi trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại mầm non TP Hải Dương - Trần Thị Mùi

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường mầm non thành phố hải dương, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp

Chuyên ngành

Quản lý Giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2016

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước

1.2. Những khái niệm công cụ

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.2. Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

1.2.3. Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

1.2.4. Quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

1.3. Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.4. Một số vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

1.4.1. Khái quát hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo

1.4.2. Tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.5. Một số vấn đề về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non

1.5.1. Vai trò của người hiệu trưởng trường mầm non trong quản lý hoạt động vui chơi của trẻ

1.5.2. Nội dung quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.5.3. Phương pháp quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

1.7. Kết luận chương 1

2. Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON TP HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng

2.1.1. Vài nét về giáo dục mầm non thành phố Hải Dương

2.1.2. Mục tiêu khảo sát

2.1.3. Đối tượng và quy mô khảo sát

2.1.4. Nội dung khảo sát

2.1.5. Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu

2.2. Thực trạng nhận thức về tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi và quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

2.2.1. Nhận thức của CBQL, GV về các khái niệm

2.2.2. Nhận thức của CBQL, GV về mục tiêu và nhiệm vụ tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

2.2.3. Nhận thức của CBQL, GV về sự cần thiết của việc tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong bối cảnh hiện nay

2.2.4. Nhận thức về nội dung quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

2.3. Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.3.1. Thực trạng nội dung hoạt động vui chơi được tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.3.2. Thực trạng mức độ tổ chức các loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.3.3. Thực trạng sử dụng phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

2.3.4. Thực trạng sử dụng hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.4. Thực trạng quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.4.1. Thực trạng nội dung quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.4.2. Thực trạng phương pháp quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.4.3. Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

2.5. Đánh giá chung về khảo sát thực trạng

2.5.1. Những ưu điểm và kết quả chính

2.5.2. Những nguyên nhân và hạn chế của thực trạng

2.6. Kết luận chương 2

3. Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON TP HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo quán triệt mục tiêu của GDMN

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính an toàn

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo phù hợp thực tiễn, đảm bảo tính khả thi

3.1.5. Đảm bảo tính kế thừa và tính đồng bộ

3.2. Một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non thành phố Hải Dương

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên về tổ chức HĐVC và quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non

3.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3.2.3. Biện pháp 3: Bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho giáo viên, đáp ứng yêu cầu tổ chức hiệu quả HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng môi trường tổ chức hoạt động vui chơi an toàn, hiệu quả cho trẻ

3.2.5. Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của biện pháp quản lý HĐVC

3.3.1. Mục đích khảo nghiệm

3.3.2. Nội dung, cách thức khảo nghiệm

3.3.3. Kết quả khảo nghiệm

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý HĐVC Trẻ 5 6 Tuổi Mầm Non Hải Dương

Giáo dục mầm non (GDMN) được xem là nền tảng đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách cho trẻ. Tâm lý học và giáo dục học đã chứng minh rằng lứa tuổi mầm non là thời kỳ đầu tiên và quan trọng của đời người, thời kỳ phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt. Hoạt động vui chơi (HĐVC) đóng vai trò chủ đạo của trẻ mầm non, giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách. Vui chơi không chỉ đáp ứng nhu cầu được chơi của trẻ mà còn giúp trẻ giải quyết các tình huống giáo dục. Theo các nhà tâm lý học, thông qua trò chơi, trẻ hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội, trí tuệ, thể chất, tình cảm. Trẻ 5-6 tuổi có thể chơi độc lập, cùng nhau chia sẻ mục đích và ý tưởng chơi. Các nghiên cứu về giáo dục học mầm non đã đề cập đến việc quản lý HĐVC nói chung cho trẻ mẫu giáo, nhưng vấn đề này cần được nhìn nhận và nghiên cứu dưới góc độ quản lý giáo dục mầm non, đặc biệt là ở địa phương như Hải Dương.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Hoạt Động Vui Chơi Có Chủ Đích

Hoạt động vui chơi có chủ đích là yếu tố then chốt trong sự phát triển toàn diện của trẻ 5-6 tuổi. Quản lý hoạt động vui chơi có chủ đích cho trẻ 5-6 tuổi giúp giáo viên (GV) định hướng rõ ràng mục tiêu giáo dục, lựa chọn nội dung phù hợp và sử dụng phương pháp hiệu quả. Điều này đảm bảo trẻ được phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, tình cảm và kỹ năng xã hội. Sự chủ động của GV trong thiết kế hoạt động vui chơi mang lại những trải nghiệm giáo dục tốt đẹp cho trẻ. Nghiên cứu của Trần Thị Mùi nhấn mạnh vai trò của người lớn trong việc tạo ra các tình huống giáo dục để trẻ được giải quyết trong khi chơi, giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách. [Trần Thị Mùi, Luận văn thạc sĩ, 2016]

1.2. Vai Trò Của Hoạt Động Vui Chơi Tự Do Phát Triển Sáng Tạo

Quản lý hoạt động vui chơi tự do cho trẻ 5-6 tuổi là tạo điều kiện để trẻ tự do khám phá, sáng tạo và thể hiện bản thân. Trong môi trường vui chơi tự do, trẻ tự lựa chọn hoạt động, tự điều khiển trò chơi và tự giải quyết các vấn đề phát sinh. GV đóng vai trò là người quan sát, hỗ trợ và tạo điều kiện để trẻ phát huy tối đa khả năng sáng tạo. Theo Maria Montessori, 'vui chơi và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, giáo dục nên tăng cường các hoạt động vui chơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ.' (Maria Montessori, 1896 - 1952)

II. Vấn Đề Thách Thức Quản Lý HĐVC Tại Mầm Non Hải Dương

Mặc dù HĐVC có vai trò quan trọng, việc quản lý HĐVC ở các trường mầm non tại Hải Dương vẫn còn nhiều thách thức. Cơ sở vật chất (CSVC) chưa đáp ứng đủ nhu cầu vui chơi của trẻ. Đội ngũ GV còn thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức và quản lý HĐVC hiệu quả. Bên cạnh đó, nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của HĐVC còn hạn chế, gây khó khăn cho việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Quản lý hoạt động vui chơi hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. [Trần Thị Mùi, Luận văn thạc sĩ, 2016] Thách thức này đòi hỏi những biện pháp quản lý cụ thể và sáng tạo từ phía các nhà quản lý giáo dục.

2.1. Thiếu Thốn Cơ Sở Vật Chất Ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Vui Chơi

Sự thiếu thốn về CSVC là một trong những thách thức lớn nhất đối với việc tổ chức HĐVC cho trẻ mầm non ở Hải Dương. Nhiều trường còn thiếu không gian vui chơi, đồ chơi, trang thiết bị và vật liệu học tập. Điều này hạn chế khả năng khám phá, sáng tạo và phát triển của trẻ. Theo Tina Bruce (1991), 'Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi thơ'. Nếu không được đáp ứng đầy đủ, trẻ sẽ mất đi cơ hội phát triển toàn diện.

2.2. Năng Lực Tổ Chức HĐVC Của Giáo Viên Cần Nâng Cao

Năng lực tổ chức HĐVC của GV là yếu tố then chốt để đảm bảo chất lượng HĐVC cho trẻ. Nhiều GV còn thiếu kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong việc thiết kế, tổ chức và quản lý các hoạt động vui chơi. Điều này dẫn đến việc các hoạt động vui chơi còn đơn điệu, thiếu sáng tạo và không đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Hiệu trưởng cần có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho GV để nâng cao năng lực tổ chức HĐVC.

III. Cách Xây Dựng Kế Hoạch Quản Lý HĐVC Mầm Non Hải Dương

Xây dựng kế hoạch quản lý HĐVC là bước quan trọng để đảm bảo HĐVC được tổ chức một cách hiệu quả và có hệ thống. Kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và các nguồn lực cần thiết. Kế hoạch cần được xây dựng dựa trên nhu cầu và đặc điểm của trẻ, cũng như điều kiện thực tế của nhà trường. Hiệu trưởng cần phối hợp với GV và phụ huynh để xây dựng kế hoạch phù hợp. Một kế hoạch quản lý tốt cần có tính linh hoạt để điều chỉnh khi cần thiết. [Trần Thị Mùi, Luận văn thạc sĩ, 2016]

3.1. Xác Định Mục Tiêu Rõ Ràng Cho Kế Hoạch Quản Lý HĐVC

Mục tiêu của kế hoạch quản lý HĐVC cần được xác định rõ ràng, cụ thể và đo lường được. Mục tiêu cần phù hợp với mục tiêu chung của GDMN và đáp ứng nhu cầu phát triển của trẻ. Ví dụ, mục tiêu có thể là nâng cao khả năng sáng tạo, phát triển kỹ năng xã hội hoặc tăng cường thể chất cho trẻ. Mục tiêu rõ ràng giúp GV và hiệu trưởng tập trung vào những hoạt động quan trọng và đánh giá hiệu quả của kế hoạch.

3.2. Lựa Chọn Nội Dung Phù Hợp Với Lứa Tuổi Và Chủ Đề

Nội dung HĐVC cần phù hợp với lứa tuổi 5-6 tuổi và chủ đề giáo dục đang triển khai. Nội dung cần đa dạng, phong phú và hấp dẫn trẻ. GV cần lựa chọn các trò chơi, hoạt động phù hợp với mục tiêu giáo dục và điều kiện thực tế của nhà trường. Nội dung cần đảm bảo tính giáo dục, an toàn và khuyến khích sự sáng tạo của trẻ. Có thể tham khảo các chủ đề được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

3.3. Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Vui Chơi Cho Trẻ Mầm Non 5 6 Tuổi

Biện pháp quản lý hiệu quả bao gồm: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động vui chơi, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức, bồi dưỡng năng lực cho giáo viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, và tăng cường công tác kiểm tra đánh giá. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong quá trình thực hiện.

IV. Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý HĐVC Mầm Non 5 6 Tuổi

Để nâng cao hiệu quả quản lý HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non thành phố Hải Dương, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp. Các biện pháp này bao gồm: nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý và GV, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức HĐVC, bồi dưỡng năng lực tổ chức HĐVC cho GV, tăng cường đầu tư CSVC, xây dựng môi trường tổ chức HĐVC an toàn và hiệu quả, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá việc tổ chức HĐVC. [Trần Thị Mùi, Luận văn thạc sĩ, 2016] Việc thực hiện đồng bộ các biện pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ.

4.1. Bồi Dưỡng Năng Lực Tổ Chức HĐVC Cho Đội Ngũ Giáo Viên

GV cần được bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm trong việc thiết kế, tổ chức và quản lý các hoạt động vui chơi. Bồi dưỡng có thể được thực hiện thông qua các lớp tập huấn, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn hoặc tự học. Nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các phương pháp tổ chức HĐVC sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của trẻ và chủ đề giáo dục.

4.2. Đầu Tư Cơ Sở Vật Chất Xây Dựng Môi Trường Vui Chơi An Toàn

Nhà trường cần đầu tư xây dựng và nâng cấp CSVC, đảm bảo có đủ không gian, đồ chơi, trang thiết bị và vật liệu học tập cho trẻ vui chơi. Môi trường vui chơi cần đảm bảo an toàn, vệ sinh và thân thiện với trẻ. Môi trường cần được trang trí đẹp mắt, hấp dẫn và khuyến khích sự sáng tạo của trẻ.

4.3. Đánh Giá Hoạt Động Vui Chơi Mầm Non 5 6 Tuổi Hiệu Quả

Việc đánh giá là một khâu quan trọng trong quản lý. Đánh giá giúp nhà quản lý (Ban giám hiệu) nắm bắt được mặt mạnh, mặt yếu của giáo viên trong công tác tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Quản lý đánh giá giáo viên về cách thức và kỹ thuật đánh giá trẻ khi trẻ tham gia chơi để xác định được mức độ đạt được của trẻ trên cơ sở đó kịp thời điều chỉnh kế hoạch tổ chức HĐVC của trẻ cho phù hợp.

V. Ứng Dụng Kết Quả Nghiên Cứu Quản Lý HĐVC Mầm Non

Nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp quản lý HĐVC hiệu quả mang lại những kết quả tích cực cho sự phát triển của trẻ và chất lượng giáo dục mầm non. Trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm và kỹ năng xã hội. Đội ngũ GV nâng cao năng lực tổ chức HĐVC. CSVC và môi trường vui chơi được cải thiện. Chất lượng giáo dục mầm non được nâng cao. Nghiên cứu của Trần Thị Mùi [2016] đã đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non thành phố Hải Dương.

5.1. Hoạt Động Vui Chơi Phát Triển Toàn Diện Nhân Cách Trẻ

Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ 3 đến 6 tuổi, cụ thể: Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thể chất cho trẻ, trí tuệ cho trẻ, đạo đức cho trẻ (thông qua giao tiếp, ứng xử, từ đó, trẻ dễ tiếp nhận các quy tắc đạo đức và thực hiện nó một cách tự giác) và thẩm mỹ cho trẻ (tạo điều kiện để trẻ cảm nhận cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật và cuộc sống).

5.2. Môi Trường Giáo Dục Mầm Non Được Cải Thiện Rõ Rệt

Môi trường chăm sóc giáo dục trong trường mầm non cần phải đảm bảo an toàn về mặt tâm lý, tạo thuận lợi giáo dục các kỹ năng xã hội cho trẻ. Trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và giữa trẻ với những người xung quanh. Do đó tất cả những hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Quản Lý HĐVC Mầm Non 5 6 Tuổi

Quản lý HĐVC cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non là một nhiệm vụ quan trọng và phức tạp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Nghiên cứu này đã chỉ ra những thách thức và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý HĐVC. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các mô hình quản lý HĐVC sáng tạo, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương. [Trần Thị Mùi, Luận văn thạc sĩ, 2016]

6.1. Vai Trò Hiệu Trưởng Trong Quản Lý Hoạt Động Vui Chơi

Hiệu trưởng chủ động phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức HĐVC cho trẻ, Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình tổ chức HĐVC của trẻ. Hiệu quả quản lý nhà trường nói chung, hiệu quả quản lý HĐVC cho trẻ nói riêng phụ thuộc trực tiếp vào phẩm chất và năng lực quản lý của hiệu trưởng nhà trường.

6.2. Thúc Đẩy Phối Hợp Giữa Nhà Trường Gia Đình Xã Hội

Để quản lý hoạt động vui chơi một cách hiệu quả nhất thì cần có sự liên kết giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Phụ huynh, thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục cần có sự trao đổi thường xuyên để có thể nắm bắt được sở thích cũng như năng khiếu của trẻ để có thể giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường mầm non thành phố hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Giáo dục mầm non là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong việc hình thành những cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài về nhân cách của con người. Vì vậy, hầu hết các quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế đều rất quan tâm đến công tác giáo dục mầm non; đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng GDMN.

Spodek (1990) nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì “học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp. Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992) Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng “học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?”. Và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ“tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên”. Với phương pháp này ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người.

Với trẻ em, chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ và giao tiếp. Nhà tâm lý học Lêônchiev khẳng định: Hoạt động vui chơi và trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu 5 download by : skknchat@gmail. Thông qua trò chơi giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách của trẻ. Hoạt động chơi tạo ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo và chơi là tiền đề cho hoạt động học tập ở lứa tuổi tiếp theo.[1] Nhà sư phạm Tiệp Khắc kiệt xuất - J.

Cômenxki (1592 - 1670) đã đặt cơ sở cho khoa học sư phạm. Ông cho rằng nguyên tắc phù hợp với tự nhiên là nguyên tắc cơ bản của công tác GD. Theo ý kiến của ông, để GD đạt được kết quả tốt nhà sư phạm cần nghiên cứu những quy luật tự nhiên và đi theo các quy luật của tự nhiên của sự hình thành nhân cách trong tổ chức các hoạt động cho trẻ. Ông nhấn mạnh đến tự nhiên bao quanh con người, tổ chức các HĐVC theo hướng hòa nhập với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ để giúp trẻ phát triển nhân cách.

Cho đến nay, nguyên tắc phù hợp với tự nhiên do Cômenxki nêu lên vẫn giữ được ý nghĩa của nó. Maria Montessori (1896 - 1952) là bác sĩ, nhà tâm lí GD của nước Ý đã dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và cho rằng trẻ em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung và tiến hành hình thức học tập của mình một cách độc lập. Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự do”. Trong quá trình CSGD trẻ em bà đưa ra 8 nguyên tắc GD cơ bản.

Trong đó nguyên tắc “vui chơi và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên. Bà nhấn mạnh đến việc trẻ chỉ được phát triển khi trẻ vui chơi, bà cho rằng vui chơi và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, GD nên tăng cường các hoạt động vui chơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ. Tác giả Tina Bruce (1991) chuyên gia GDMN của Úc đã nghiên cứu và tóm tắt về giá trị của việc chơi đùa như sau: “Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được 6 download by : skknchat@gmail.com vui chơi của tuổi thơ. Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ mang tính can đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành”.[7, tr1] Trong “Sổ tay hiệu phó chuyên môn”, tác giả A.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ.

Tác giả cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì người quản lý phải quan sát và phân tích được HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt của các trò chơi thì mới bồi dưỡng tốt cho giáo viên về công tác tổ chức HĐVC “Quan sát và phân tích HĐVC đó là một việc rất phức tạp. Điều này nó gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo, với vị trí của nó trong quá trình giáo dục ở trường mầm non, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt. Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo mẫu giáo một cách kịp thời”.[2] Có thể nhận thấy, những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra ý nghĩa của HĐVC đối với trẻ mẫu giáo và công tác quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo trong mối quan hệ với quản lý, tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ ở trường mầm non. Những nghiên cứu trong nước Tiếp cận công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tổ chức và quản lý HĐVC cho trẻ mẫu giáo nói chung, trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non trong nhiều năm qua đã có một số nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả trong nước về nội dung này.

Trong cuốn “Hướng dẫn tổ chức HĐVC”, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981) đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi của trẻ. Đó là: chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, 7 download by : skknchat@gmail.com chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi. Tác giả khẳng định kết quả của hai mức độ cuối phụ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi giáo viên.[6, tr 17] Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường mẫu giáo” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng đã có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “Giáo viên phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ”.[9] Trong cuốn “Tổ chức, hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi”, các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ và nhấn mạnh “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ”.[24, II, tr7-8-9] Trong Tài liệu bồi dưỡng CBQL và GVMN (2006), Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng giáo dục và phát triển trẻ toàn diện, giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN”.[3] Có thể nói trong GDMN đã có các công trình nghiên cứu về chương trình GD, về các hoạt động giáo dục, về cách tổ chức các HĐVC nhưng đến nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non theo hiểu biết của người nghiên cứu. Vì vậy, dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình kể trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi ở trường mầm non Thành phố Hải Dương” với mong muốn kết quả nghiên cứu góp phần làm phong phú thêm thông tin về lý luận và thực tiễn cho vấn đề này.

8 download by : skknchat@gmail. Những khái niệm công cụ 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý không chỉ là một dạng hoạt động cụ thể mà đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề phức tạp nhất trong xã hội hiện đại.

Chính vì thế, lý luận về quản lý ngày càng phát triển phong phú. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý: Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau nó bảo toàn cầu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục tiêu hoạt động. Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó: Quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với những hoàn cảnh mới. Quản lý là một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người- thành viên của hệ, nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến.

Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội. Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể quản lý. Chúng tôi cho rằng: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra.

Quản lý là sự tác động điều khiển, hướng dẫn các quy trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã xác định. 9 download by : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ