Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục truyền thông lịch sử địa phương cho học sinh tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục truyền thống lịch sử địa phương cho học sinh tiểu học trên địa bàn ATK huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục truyền thông lịch sử địa phương cho học sinh tiểu học trên địa bàn ATK huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ ĐỊA PHƢƠNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những năm gần đây, hoạt động nghiên cứu, biên soạn truyền thống lịch sử địa phương được đẩy mạnh đã góp phần không nhỏ vào việc bổ sung, đính chính, hoàn thiện lịch sử dân tộc; đồng thời có tác dụng giáo dục tư tưởng, tình cảm trong sáng, lành mạnh cho học sinh ở trường phổ thông. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy truyền thống lịch sử địa phương chưa được tiến hành đều khắp giữa các vùng, khu vực; chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đặt ra.
Ở các nước phát triển: công tác nghiên cứu lịch sử địa phương rất được chú trọng. Ngành “địa phương học” đã thu hút hoạt động nghiên cứu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, điều kiện tự nhiên ở các địa phương. Ở nhiều nước, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á, lịch sử địa phương đã gắn chặt với hoạt động của ngành du lịch; chính vì vậy, môi trường sinh thái nói chung, môi trường văn hóa nói riêng được bảo vệ chặt chẽ, vốn văn hóa độc đáo đặc thù trong lịch sử được khai thác một cách hợp lý, vừa có ý nghĩa lớn về mặt chính trị, vừa có hiệu quả kinh tế cao. Cộng hòa Liên bang Nga là một trong những nước tiến hành việc nghiên cứu về địa phương từ rất sớm.
Từ đầu thế kỷ XVIII, vua Pie đệ nhất đã ra chỉ thị: “Mọi sự tìm kiếm của các nhà nghiên cứu đều phải báo lên Nga hoàng và nhà vua sẽ trọng thưởng cho những ai có công tìm ra các cổ vật trong phạm vi vương quốc Nga”. Từ sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười năm 1917, theo chỉ thị của Lênin, văn kiện giáo dục đầu tiên của Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga (1918) đã yêu cầu sử dụng hình thức và phương pháp dạy học lịch sử địa phương trong giờ nội khóa ở trường phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Ở Hunggari, công tác nghiên cứu, sưu tầm lịch sử địa phương cũng rất được coi trọng. Nhà trường kết hợp với các cơ quan chuyên môn lịch sử và văn hóa, tổ chức cho học sinh sưu tầm tư liệu để xây dựng những “làng bảo tàng” địa phương.
Ở đó, người ta trưng bày những hiện vật lịch sử, những kiến thức độc đáo, những nét đặc thù trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân các địa phương. Ở Việt Nam: trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã có những tài liệu nghiên cứu về lịch sử địa phương như các gia phả, thần phả… Từ sau 1954, công tác nghiên cứu lịch sử địa phương ở Miền Bắc được chú ý. Viện sử học đã nhấn mạnh vị trí, tầm quan trọng của công tác nghiên cứu lịch sử địa phương. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, một số trường phổ thông ở Miền Bắc đã có những cố gắng trong công tác sưu tầm và sử dụng tài liệu lịch sử địa phương trong dạy, học lịch sử.
Một số trường ở những nơi sơ tán cũng đã huy động đội ngũ cán bộ giảng dạy và sinh viên tiến hành khảo cứu, biên soạn một số công trình lịch sử địa phương. Ở Miền Nam dưới thời Mỹ - Ngụy cũng xuất hiện một số chuyên khảo về lịch sử địa phương. Những công trình này được phản ánh dưới nhãn quan và mục tiêu chính trị của giai cấp tư sản đương thời. Từ sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc nghiên cứu lịch sử địa phương được tiến hành rộng khắp trên phạm vi cả nước.
Cho đến nay, đã có nhiều quyển sách biên soạn về lịch sử địa phương như: Công tác ngoại khóa lịch sử ở trường cấp II, III của tác giả Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Trần Văn Trị (1968); Lịch sử địa phương của tác giả Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên (1989); Nghiên cứu và dạy- học lịch sử địa phương ở Việt Bắc của tác giả Đỗ Hồng Thái (1996); Lịch sử địa phương của tác giả Nguyễn Cảnh Minh chủ biên và Đỗ Hồng Thái (1998); Nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương của tác giả Nguyễn Công Khanh chủ biên (2002)… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Hầu hết các tỉnh, huyện, xã và một số ngành đã biên soạn được truyền thống lịch sử của đảng bộ, ngành. Ở Tuyên Quang, kết quả công tác xuất bản lịch sử Đảng, truyền thống đến hết năm 2014 như sau: Lịch sử Đảng bộ, truyền thống cách mạng cấp tỉnh đã xuất bản 09 cuốn; Lịch sử, truyền thống các cơ quan ban, ngành cấp tỉnh đã xuất bản 21 cuốn; Lịch sử Đảng bộ các huyện, thành ủy, đảng ủy trực thuộc đã xuất bản 20 cuốn; Lịch sử Đảng bộ các xã, phường, thị trấn đã xuất bản 96 cuốn/141 xã, phường, thị trấn; Truyền thống các cơ quan ban, ngành cấp huyện đã xuất bản 06 cuốn. Đây là những tài liệu quý giúp cho việc giáo dục TTLSĐP thuận lợi và hiệu quả hơn. Năm 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang tiến hành biên soạn giáo trình “Tài liệu dạy - học ở tiểu học Lịch sử địa phương tỉnh Tuyên Quang”, gồm: + Bài 1 (01 tiết): Tuyên Quang từ buổi đầu lịch sử đến cuối thế kỷ XIX, + Bài 2 (01 tiết): Tuyên Quang từ năm 1884 đến năm 1945, + Bài 3 (01 tiết): Tuyên Quang từ năm 1946 đến nay (2010), + Bài 4 (01 tiết): Dạy học lịch sử địa phương Tuyên Quang ở tiểu học, + Bài 5 (02 tiết): Thực hành sưu tầm lịch sử địa phương, xây dựng kế hoạch dạy học và dạy học lịch sử địa phương ở tiểu học.
+ Bài 6 (01 tiết): Tổng kết ôn tập. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý, biện pháp quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động đã hình thành hoạt động đặc biệt đó là sự chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển/điều hành, kiểm tra, điều chỉnh dành cho những người đứng đầu của một tổ chức hay một nhóm.
Hoạt động đặc biệt đó chính là hoạt động quản lý. Và cũng từ lúc đó, mọi người tìm hiểu bản chất khái niệm quản lý và đưa ra những định nghĩa khác nhau từ những góc độ tiếp cận khác nhau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý: Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [11, tr. - Quan điểm của các tác giả trong nước về quản lý: + Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.23] + Từ điển Hán Việt: “quản: trông coi, phụ trách; lí: phụ trách. Tổ chức, điều khiển công việc của một tổ chức. Ví dụ: quản lý cán bộ. Giữ gìn, trông nom và theo dõi.
Ví dụ: quản lý hồ sơ, sổ sách”. + Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [20]. + Tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [25]. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản: nói đến quản lý là bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người), đối tượng bị quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…), mục tiêu quản lý nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động; chủ thể tiến hành các tác động quản lý bằng công cụ quản lý và phương pháp quản lý.
Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động lên con người để họ làm những điều bổ ích và có lợi cho tổ chức. Vì vậy, để quản lý tốt trước hết cần hiểu sâu sắc về con người sau đó là đào tạo về cách thức tác động đến con Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN10 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com người. Có thể khái quát: quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra. Hay nói cách khác: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Biện pháp quản lý Biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở phương pháp đã xác định. Tính hiệu quả của quản lý phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng và đáp án linh hoạt nhất các biện pháp quản lý. Biện pháp quản lý chính là những cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lý. Đối tượng quản lý luôn phức tạp, đòi hỏi những biện pháp quản lý phải đa dạng và linh hoạt.
Đồng thời, giữa các biện pháp phải liên hệ chặt chẽ, tạo thành một hệ thống giúp nhà quản lý thực hiện tốt phương pháp quản lý của mình, mang lại hiệu quả tối ưu cho bộ máy.