Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tầm quan trọng của kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống được khẳng định và nhấn mạnh trong Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000). Theo đó, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp.
Người ta coi kĩ năng sống là của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Đánh giá chất lượng giáo dục có tinh đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học [70]. Trong bối cảnh này, các nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống được triển khai rất rộng rãi. Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau [75]: a) Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống nêu trên thể hiện tương đối nhất quán trong những công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Điều này thể hiện rõ trong các Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và các nhóm đối tượng đặc thù trong công đồng dân cư ở Việt Nam, chẳng hạn Chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” [15]; Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em, Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, THCS, Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT (Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ). Các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo [2]; Phạm Minh Hạc [21]; Phạm Văn Nhân [41]; Trần Thời [51]; Nguyễn Thanh Bình [3;4;5;6,7,8,9] cũng nhất quán về mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống là: “nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và 11 tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”. b) Nghiên cứu xác định nội dung và các thành tố cấu trúc khác của giáo dục kỹ năng sống Những vấn đề liên quan đến nội dung của giáo dục kĩ năng sống được đề cập tương đối có hệ thống trong Chương trình giáo dục của UNICEF vào những năm 90 của thế kỉ XX.
Trong Chương trình “giáo dục những giá trị sống”, 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ đã được đề cập [17]. Những nghiên cứu về kĩ năng sống trong thời điểm đó đã cố gắng thống nhất quan niệm chung về kĩ năng sống, cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống ở giai đoạn này đều tiếp cận quan niệm về kĩ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội [3;4]. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kĩ năng sống nêu trên [75].
Sau này, trước yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội… để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Từ định hướng về nội dung giáo dục kĩ năng sống của các Chương trình giáo dục kĩ năng sống mang tính toàn cầu, mỗi quốc gia đã cụ thể hóa những nội dung đó trong chương trình giáo dục kĩ năng sống ở quốc gia mình. Ví dụ, UNESCO Thái Lan cũng công bố 7 giá trị truyền thống trong hệ giá trị của Thái Lan cần được giáo dục và cho rằng những giá trị sống được hình thành và phát triển thành các kĩ năng sống sẽ tạo nên nhân cách con người và có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển xã hội. Ở Trung Quốc giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống ở bậc tiểu học và trung học cơ sở cũng được quán triệt từ các cấp quản lí.
Họ coi giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống là giáo dục những giá trị truyền thống dân tộc trong lễ giáo với mọi người trong nước và ngoài nước; hệ giá trị cần giáo dục là giá trị thời đại. Chiến lược phát triển giáo dục của Hoa Kỳ đã xác định giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống ở trường phổ thông gồm 12 nội dung với một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từ xây dựng chương trình giáo dục, tài liệu giảng dạy, các hoạt động… 12 Kết quả nghiên cứu về nội dung giáo dục kĩ năng sống đã trình bày cho thấy: nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa thể hiện những nét riêng của từng quốc gia. Ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những kĩ năng sống cơ sở trong khi trong giáo dục chính quy, các kĩ năng sống cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân.
Cùng với những nghiên cứu nhằm xác định nội dung giáo dục kĩ năng sống, các nghiên cứu về những thành tố khác của giáo dục kĩ năng sống như phương pháp, hình thức giáo dục kĩ năng sống cũng được triển khai khá sâu, rộng. Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc quản lí hoạt động giáo dục kĩ năng sống bằng cách đưa kĩ năng sống vào các nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khoá ở Tiểu học và Trung học. Việc giáo dục kĩ năng sống cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức: + Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt. + Kĩ năng sống được tích hợp vào một vài môn học chính.
+ Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình. Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa kĩ năng sống thành một môn học riêng biệt, ví dụ như: Ma-la-wi, Căm-pu-chia,. Còn đa số các nước, để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kĩ năng sống vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: giáo dục sức khoẻ, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường. Một số nước đã sử dụng tiếp cận "Whole School Approach" trong đó có hình thức xây dựng "Trường học thân thiện" nhằm thúc đẩy việc giáo dục kĩ năng sống cho HS trong nhà trường [10].
Về phương pháp giáo dục các kĩ năng sống, nghiên cứu của Quest International (1990) dựa trên nghiên cứu về chiến lược dạy và học từ nhiều kết quả nghiên cứu khác đã đề xuất “phương pháp luận học tập kỹ năng sống” gồm 4 phần dựa trên cơ sở 6 giả thiết mà các nhà nghiên cứu đã quyết định hình thành nên cơ sở của việc học. Những giả thiết là: 1/ Học tập hướng tới mục đích; 2/ Học tập là kết nối thông tin mới với kiến thức trước đó; 3/ Học tập là có chiến lược; 4/ Học tập diễn ra theo các giai đoạn; 5/ Học tập là đệ quy; và 5/ Học tập bị ảnh hưởng bởi sự phát triển [78]. 13 Theo Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO: 1993), các kỹ năng sống được học tốt nhất thông qua phương pháp học tập tích cực. Trong các phương pháp lấy người học làm trung tâm, việc hình thành các kỹ năng sống phụ thuộc vào quá trình học tập cùng với người khác thông qua hoạt động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp, động não, sắm vai, tranh luận hoặc thảo luận.
Một trong những người đầu tiên và là người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo [3; 4] tác giả Nguyễn Thành Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả đã chỉ rõ: Chương trình, tài liệu giáo dục kĩ năng sống được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức, cụ thể là: + Lồng ghép vào chương trình dạy chữ, học vấn vào tất cả các môn học và các chương trình ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: có nước lồng ghép dạy kĩ năng sống vào các chương trình dạy chữ cơ bản nhằm xoá mù chữ.
Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kĩ năng làm nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, HIV/AIDS; + Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học. Ví dụ: tạo thu nhập; môi trường, kĩ năng nghề; kĩ năng kinh doanh. Trong cuốn “Giáo trình Giáo dục kĩ năng sống” Nguyễn Thanh Bình khẳng định những yêu cầu cụ thể đối với việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Tác giả cho rằng: “Cốt lõi của việc đổi mới phương pháp dạy học là hướng vào học tập chủ động, chống thói quen thụ động, đồng thời coi dạy học thông qua tổ chức hoạt động của học sinh là đặc trưng thứ nhất của phương pháp dạy học tích cực” [3].