phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của quản lí GDKNS cho HSTHPT Chƣơng 2 : Thực trạng của việc quản lí GDKNS cho HS ở trường THPT Trần Hưng Đạo Nam Định Chƣơng 3 : Một số giải pháp quản lí GDKNS cho HS trường THPT Trần Hưng Đạo thông qua các HĐGDNGLL. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã có thông điệp để xây dựng một xã hội học tập trong thế kỉ XXI thì tất cả các quốc gia cần phải xây dựng tốt bốn trụ cột của giáo dục.
Đó là : Học để biết và sáng tạo, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người[16]. Để thực hiện bốn trụ cột này việc GDKNS là rất cấp thiết. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung GDKNS cho HS vào trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau. Đã có 155 nước quan tâm đến việc đưa GDKNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở bậc tiểu học và bậc trung học[9].
Theo kết quả nghiên cứu khảo sát của bà Đỗ Thị Hải, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội : “ Khảo sát ở hơn 1000 học sinh sinh viên thuộc 10 trường Đại học, cao đẳng và phổ thông cho thấy trên 95% chưa nhận thức đúng về kĩ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được đào tạo, tập huấn về kĩ năng sống; 76.4% cho biết rất cần được tập huấn kiến thức về kĩ năng sống”[33]. Trong số những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hành vi sai trái về đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật của học sinh sinh viên, bên cạnh trách nhiệm của xã hội, nhà trường và gia đình, theo Tiến sĩ Phùng Khắc Bình – Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh sinh viên ( Bộ Giáo dục – Đào tạo ) thì “ Có nguyên nhân quan trọng do bản thân học sinh sinh viên thiếu kĩ năng sống, thiếu những kiến thức, hiểu biết để giải quyết đúng đắn các vấn đề trong cuộc sống “[33]. Trước những hiện tượng tiêu cực trong đạo đức, lối sống, hành vi của một bộ phận học sinh gây lo lắng bức xúc trong dư luận xã hội, bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai nhiều phong trào trong trường học như an toàn giao thông, sức khỏe,. Đặc biệt ngày 22/7/2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT về việc phát động 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường phổ thông giai đoạn 2008-2013.
Trong năm nội dung của phong trào thi đua, có nội dung rèn luyện KNS cho HS với những kĩ năng khá cụ thể. Xã hội càng phát triển, khoa học kĩ thuật càng tiến bộ thì nhu cầu học tập của con người càng lớn. Người ta có nhu cầu muốn học để hiểu biết, để làm việc, để sống tốt hơn để tự khẳng định mình, để mong có cơ may và để hòa nhập vào cộng đồng ngày càng văn minh tiến bộ. Vì vậy các nhà trường hiện nay cùng với việc trang bị cho HS các kiến thức còn cần phải trang bị cho các em sự hiểu biết các giá trị, các kĩ năng để đảm bảo hạnh phúc cho bản thân, cho mọi người và đóng góp tích cực cho đất nước cũng như thế giới.
GDKNS là việc đòi hỏi sự tham gia của cả gia đình, nhà trường và xã hội. Tuy nhiên việc GD kĩ năng tại các trường học chỉ mới dừng lại ở các tiết học về GD công dân hay sự lồng ghép trong một số HĐGDNGLL. Mục đích của GDKNS cho HS trong các giờ giảng, trong các hoạt động chưa được xác định đúng mức, rõ ràng vì thế hiệu quả của việc GDKNS cho các em còn nhiều hạn chế. Đặc biệt nghiên cứu quản lí GDKNS thông qua các HĐGDNGLL còn chưa có ai nghiên cứu nhất là ở thành phố Nam Định, nhằm tạo ra sự thống nhất toàn xã hội.
Đề tài nghiên cứu của tác giả với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lí việc GDKNS thông qua các HĐGDNGLL, tạo ra sự thống nhất nhận thức và hành động một cách hệ thống trong nhà trường. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc quản lí GDKNS cho HSTHPT có những khái niệm mang tính khoa học liên quan đến đề tài, như: Quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, chức năng quản lí giáo dục, kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống, quản lí giáo dục kĩ năng sống, hoạt động giáo dục ngoài giờ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lên lớp. Trong khuôn khổ của đề tài, đây là những khái niệm công cụ góp phần làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của đề tài. Khái niệm quản lí Khái niệm “ Quản lí “ thuộc về những khái niệm chung nhất, tổng hợp nhất, nó bao hàm cả quản lí xã hội, quản lí các quá trình sinh vật và quản lí cả máy móc, quản lí cơ chế ở những dạng khác nhau.
Trong dạng chung nhất: Quản lí là quá trình tác động đến hệ thống nhằm mục đích chuyển hệ thống vào trạng thái mới, trên cơ sở sử dụng những quy luật khách quan thuộc về hệ thống đó. Chính vì thế quản lí được hiểu bằng nhiều cách khác nhau và được định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể. Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, để từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự. - Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người.
Do vậy việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người”. Với học thuyết này giúp cho người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền. - Cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống: Cách tiếp cận này cho phép xem xét các hoạt động quản lý như một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm những yếu tố và mối quan hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: - Định nghĩa quản lí một cách kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí( người quản lí ) đến khách thế quản lí( người bị quản lí ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.1] - Ngày nay hoạt động quản lí được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.1] Theo tác giả Trần Khánh Đức: “ Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt dược các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất “.328] Bất cứ một hệ xã hội nào cũng được xem như là một hệ quản lí: một nhà máy, một xí nghiệp, một trường học hay một quốc gia. Mỗi hệ quản lí bao gồm hai bộ phận gắn bó khăng khít với nhau: - Bộ phận quản lí ( giữ vai trò chủ thể quản lí ) có chức năng điều khiển hệ quản lí, làm cho nó vận hành với mục tiêu đã đặt ra. - Bộ phận bị quản lí (đối tượng quản lí- giữ vai trò khách thể quản lí ) gồm những người thừa hành trực tiếp sản xuất và bản thân quá trình sản xuất. Trong quản lý chủ thể quản lý và đối tượng quản lý lại có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.
Khi mục tiêu của tổ chức thay đổi sẽ tác động đến đối tượng quản lý thông qua chủ thể quản lý. Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: Quản lí là tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đưa hệ thống đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó vận hành tiến lên một trạng thái mới về chất. Quá trình quản lý có thể được khái quát bằng sơ đồ sau đây: 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Khái quát quá trình quản lý Bộ phận quản lí (chủ thể quản lí) Mục tiêu Bộ phận bị quản lí (khách thể quản lý) 1. Khái niệm quản lí giáo dục Quản lí giáo dục là một bộ phận của quản lí xã hội và là một loại hình quản lí đặc biệt phong phú.
Cũng như khái niệm quản lí, quản lí giáo dục chưa có khái niệm đồng nhất. Về nội dung khái niệm quản lí giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau : Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu: Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các câp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.