Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục về kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường trung học phổ thông Chi Lăng. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số trường trung học phổ thông Chi Lăng đến năm 2020. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Đứng trước quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, trong điều kiện một xã hội thay đổi nhanh, cạnh tranh toàn cầu, cộng với sự bùng nổ của kiến thức - đặc biệt "tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu và là nguồn lực thống trị - và có thể là duy nhất - của lợi thế cạnh tranh" (Peter Drucker - 1995) - hệ thống giáo dục của tất cả các quốc gia bị đặt vào "khủng hoảng", vì vậy chính sách và thực tiễn giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của mỗi quốc gia, mỗi gia đình, và mỗi cá nhân. Dù ở thời đại nào, xã hội nào, kỹ năng sống vẫn luôn là bí quyết giúp con người thích ứng với môi trường sống, đặc biệt là trong xã hội đương đại, với nhịp sống quay cuồng cùng với sự canh tranh khốc liệt kỹ năng sống là năng lực tâm lí - xã hội của cá nhân, là tổ hợp của rất nhiều kỹ năng tâm lí - xã hội. Vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông, công tác này cần được tiếp tục tiến hành thường xuyên, liên tục, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, hoàn cảnh, hoạt động của từng loại đối tượng, và mang tính mềm dẻo, dưới nhiều hình thức, quy mô, loại hình hoạt động. Theo UNESCO, kỹ năng sống gắn liền với 4 mục tiêu của giáo dục là: học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống.
Như vậy, kỹ năng sống là tất cả những kỹ năng cần có giúp cá nhân học tập, làm việc có hiệu quả hơn, sống tốt hơn. Trong xã hội hiện đại có đến hàng trăm kỹ năng sống khác nhau. Do đó, tùy vào hoàn cảnh, môi trường sống, điều kiện sống mà giáo viên cần dạy cho học sinh những kỹ năng thiết yếu phù hợp. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông ở Việt Nam trong những năm gần đây đang được sự quan tâm đặc biệt của xã hội và của ngành GDĐT.
Giáo dục kỹ năng sống nhằm hướng tới việc ngăn chặn những hành vi nguy cơ và hình thành, xây dựng hành vi sống tích cực, thúc đẩy quá trình mang lại sức khỏe và hạnh phúc cho con người. Việc giáo dục kỹ năng sống cho giới trẻ nói chung và cho học sinh THPT đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số hiện nay là vô cùng cần thiết. Giáo dục kỹ năng sống trở thành 1 trong 5 nội dung của phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực" giai đoạn 2008-2013 do bộ Giáo dục và Đào tạo phát động. Luận văn "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường THPT Chi Lăng, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn" có thừa kế và phát triển những kết quả của nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước.
Vấn đề luận văn quan tâm không chỉ là giáo dục kỹ năng sống như thế nào mà quan tâm tới những biện pháp quản lý của nhà trường để thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số một cách hiệu quả và thiết thực. Trong quá trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống, tác giả đã sưu tầm, tham khảo các tài liệu và hệ thống lại như sau: 1. Ở ngoài nước Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lương giáo dục đào tạo hiện nay, giáo dục kỹ năng sống cho người học là trách nhiệm của mỗi quốc gia (Theo tinh thần của chương trình hành động Dakar năng 2000). Giáo dục kỹ năng sống cho người học cần được triển khai theo hai hướng: Một mặt trang bị cho người học những kỹ năng sống cốt lõi để họ có thể ứng phó với các tình huống trong cuộc sống, mặt khác cần triển khai các nội dung giáo dục tiếp cận kỹ năng sống nhằm không chỉ nhận thức, thái độ mà quan trọng là thay đổi hành vi theo hướng tích cực.
UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Kết quả của dự án là bức tranh tổng 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể các nhận thức, quan niệm về kỹ năng sống mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng. Dự án chia làm 2 giai đoạn với hai nhóm nghiên cứu: Giai đoạn một: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống. Câu hỏi đặt ra ở giai đoạn này cho mỗi nước là: Quan niệm về kỹ năng sống như thế nào và phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? Việt Nam cũng tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này qua ấn phẩm "Life skills Mappingain Viet Nam", được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh là kết quả của nghiên cứu trong khuôn khổ hợp tác giữa UNESCO với Viện Chiến lược và chương trình giáo dục.
Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra. Như vậy, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Ở một số quốc gia, giáo dục kỹ năng sống được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đếp những vấn đề bức xúc trên thực tế. Ở Ma - rốc: giáo dục kỹ năng sống hướng đến các vấn đề như: Vệ sinh, các vấn đề nổi cộm ở đô thị, bảo quản nguồn nước.
Ở các nước phương tây, kỹ năng sống từ lâu đã được quan tâm. Mô hình giáo dục của Pháp thế khỉ XXI theo đề xuất của Edgard Morin là phải giảng dạy về hoàn cảnh con người (hiểu rõ con người là gì, con người sống và hoạt động như thế nào trong những điều kiện nào, con người xử lý bằng cách nào) và học cách sống. Triết lý giáo dục Mỹ đầu thế kỉ XXI cũng cho rằng: Cần nâng cao kỹ năng giao lưu qua nói, viết, đọc, nghe, cần phát triển khả năng suy ngẫm. Người Nhật đi vào thế kỉ XXI với mô hình không đánh giá học sinh, sinh viên qua năng lực hiểu các môn học mà đánh giá khả năng giải quyết các vấn đề của đời sống thực tiễn.
Nội dung giáo dục kỹ năng sống đã được tích hợp trong một số môn học và các hoạt động giáo dục trong trường 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phổ thông, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh còn được thực hiện thông qua nhiều chương trình, dự án như: Giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục phòng tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòng tránh thương tích. Đây chính là giáo dục kỹ năng sống gắn với những nội dung,vấn đề cụ thể. Ở trong nước Đối với Việt Nam đây là một vấn đề rất được quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu nhưng cũng mới chỉ có sự tiếp cận trên một vài phương diện chủ yếu là giáo dục sức khoẻ và giáo dục vệ sinh môi trường. Chủ yếu là GDKNS với sự hỗ trợ của UNICEF (2001 - 2005) nhằm hướng đến cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em và trẻ chưa thành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như: “Trường học nâng cao sức khoẻ” của Bộ GD & ĐT, Bộ y tế, Tổ chức Y tế thế giới (WHO); dự án “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” của Bộ GD & ĐT.
Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Quan niệm về kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị. nhằm vào các chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Tham gia chương trình này đầu tiên gồm có ngành Giáo dục và Hội chữ thập đỏ.
Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống”. Ngoài ngành Giáo dục, đối tác tham gia còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang bước vào 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời kỳ hội nhập và phát triển nên đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của các tác giả: PGS. Đặng Thị Thanh Huyền, PGS.
Đặng Quốc Bảo, PGS. Nguyễn Thị Hường, Bác sỹ Lê Công Phượng; PGS. Nguyễn Thanh Bình; TS. Lưu Thu Thuỷ; TS.
Nguyễn Kim Dung, TS. Vũ Thị Sơn; Lưu Thị Lịch, Nguyễn Thị Chính, Đoàn Thị Hương; TS Tâm lý học: Huỳnh Văn Sơn; PGS. Nguyễn Dục Quang; GS. Nguyễn Quang Uẩn.
Từ năm học 2009-2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa chương trình GDKNS vào chỉ thị của việc thực hiện nhiệm vụ năm học. Nội dung giáo dục KNS cho HS trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm lý – xã hội là những kĩ năng được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống, tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý công tác GDKNS cho học sinh dân tộc thiểu số. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, Quản lý Giáo dục, Quản lý nhà trường 1.