phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luâ ̣n c ủa giáo dục hƣớng nghiệp và quản lý giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng THPT theo định hƣớng phát triển nhân lực. Chƣơng 2: Thƣ̣c tra ̣ng giáo dục hƣớng nghiệp và quản lý giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng THPT tại TPHCM. Chƣơng 3: Các giải pháp quản lý giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng THPT theo định hƣớng phát triển nhân lực TPHCM. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Chất lƣợng nhân lực chính là nhu cầu to lớn mà tất cả các nền KT đều đặt ra đối với những ngƣời làm công tác giáo dục, đào tạo. Bên cạnh đó, cộng đồng khoa học thế giới cũng hiểu rất rõ vai trò và ảnh hƣởng nhất định của GDHN đối với chất lƣợng NL của một quốc gia. Chính vì lẽ đó, GDHN đã đƣợc nhiều nhà khoa học trên toàn thế giới quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên HS có sự chọn lựa nghề nghiệp sao cho phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá nhân và yêu cầu phát triển KT-XH của đất nƣớc, hay nói rộng hơn, là nhằm giúp một quốc gia không những nâng cao chất lƣợng NL mà xa hơn nữa, còn giúp đẩy mạnh ổn định và phát triển bền vững KT, CT, XH.
Lịch sử GDHN và QL GDHN trên thế giới đã có những bƣớc tiến đáng kể trong việc xây dựng đƣợc hệ thống lý thuyết và các chiến lƣợc phát triển GDHN hơn 100 năm qua. Khởi đầu là lý thuyết của Frank Parsons (1854 – 1908), giáo sƣ ngƣời Mỹ, với cách tiếp cận “yếu tố nhân cách” vào những năm đầu của thế kỷ 20 [122, tr. Ông cho rằng phải QL GDHN sao cho cá nhân thực hiện đƣợc 3 yêu cầu sau trƣớc khi chọn nghề [121, tr.72]: - Hiểu đƣợc chính xác đặc điểm nhân cách của mình (thái độ, mối quan tâm, khả năng cá nhân…) - Có kiến thức về thế giới nghề nghiệp và TTLĐ. - Đánh giá đƣợc một cách khách quan và hợp lý về mối quan hệ giữa đặc điểm tính cách bản thân và TTLĐ.
Vào những năm 1960, nhà tâm lý học ngƣời Mỹ John Holland (1919-2008) đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp khác nhau, ông đã chỉ ra rằng tƣơng ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp khác nhau thì có một số nghề mà cá nhân có thể chọn để có đƣợc hiệu quả làm việc cao 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nói cách khác, ông cho rằng khi lựa chọn một nghề nào, con ngƣời có xu hƣớng sẽ tìm kiếm những môi trƣờng làm việc mà ở đó, họ đƣợc thể hiện bản thân, thể hiện cái tôi của mình và có xu hƣớng không chọn những việc không phù hợp với đặc điểm nhân cách của mình. Lý thuyết của John Holland đã và đang đƣợc các nhà QL sử dụng rộng rãi trong thực tiễn QL nhân sự cũng nhƣ QL GDHN trên toàn thế giới [122, tr. Ông nổi tiếng với lục giác hƣớng nghiệp RIASEC, thể hiện 6 kiểu nhân cách nghề nghiệp: Realistics (kiểu ngƣời thực tế), Investigative (kiểu ngƣời thích nghiên cứu), Artistic (kiểu ngƣời có tính nghệ sĩ), Social (kiểu ngƣời có tính XH), Enterprising (kiểu ngƣời dám nghĩ dám làm), Conventional (kiểu ngƣời công chức).
Năm 1938, GDHN và QL GDHN đã mang tính pháp lý tại Pháp thông qua Quyết định ban hành chứng chỉ HN bắt buộc đối với tất cả thanh niên dƣới 17 tuổi. Có thể nói các nhà nghiên cứu giáo dục Pháp cũng là một trong những ngƣời đi đầu nghiên cứu về GDHN và QL GDHN. Trong những năm gần đây, ngành giáo dục Pháp đã xây dựng đƣợc dự thảo Luật HN, nâng tầm lĩnh vực này lên một bƣớc đáng kể. Đây chính là hành lang pháp lý hỗ trợ cho QL GDHN trong các cơ sở giáo dục của Pháp.
Ngoài ra, Pháp đang đẩy mạnh nghiên cứu theo hƣớng phát triển GDHN suốt đời, đƣợc áp dụng trong và ngoài trƣờng học [125, tr. Allan Walker, một nhà nghiên cứu về GDHN ngƣời Úc cho rằng: “nhà trƣờng hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình đẳng trong tất cả học sinh, làm cho học sinh vừa có kỹ năng lao động vừa có tri thức” [119, tr. Do đó, trong quá trình QL GDHN ở trƣờng học, cần chú ý đến mục tiêu phát triển kỹ năng HN và thích ứng nghề của HS và QL sao cho mọi HS đều đƣợc tiếp cận với HĐGD này. Giáo dục hƣớng nghiệp trên thế giới cũng đã xuất hiện trào lƣu “tiếp cận phát triển” với lý luận rằng: sự phát triển của cá nhân là một tiến trình liên tục và không thể quay lại đƣợc, tiến trình này có thể khác nhau trong các mô hình đƣợc gọi là các giai đoạn của vòng đời và cuối cùng, kết quả của một sự phát triển bình thƣờng chính là sự trƣởng thành càng lúc càng rõ nét của cá nhân.
Do đó, cần QL tốt tiến trình phát triển nói trên. Những đại diện tiêu biểu của cách tiếp cận này là Eli Ginzberg (1911-2002) và Donald Super (1910-1994), cụ thể nhƣ sau: Eli Ginzberg 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và cộng sự đã đề xuất phải QL 3 giai đoạn tƣơng ứng với 3 độ tuổi khác nhau của một con ngƣời: đầu tiên là độ tuổi mộng mơ kéo dài từ lúc mới sinh cho tới 11 tuổi, tiếp theo là độ tuổi thăm dò kéo dài từ 11 tuổi đến 17 tuổi với 3 đặc điểm chính gồm sở thích, khả năng và giá trị; cuối cùng là độ tuổi thực tế kéo dài từ 17 tuổi trở đi với 3 đặc điểm chính gồm khám phá, kết tinh và định hình. Theo thuyết này, QL GDHN ở trƣờng THPT sẽ ảnh hƣởng đến những năm đầu của độ tuổi thực tế. Trong khi đó, Donald Super lại cho rằng lý thuyết của Eli Ginzberg có khuyết điểm, một trong số đó chính là chƣa QL đƣợc việc cung cấp thông tin giáo dục và thế giới nghề nghiệp trong quá trình GDHN cho HS.
Một trong những đóng góp lớn nhất của Donald Super chính là ông đã phát triển khái niệm “self-concept”, tức là “tự biết mình”. Theo ông, sự tự biết mình thay đổi theo thời gian và phát triển nhƣ là kết quả của sự trải nghiệm, theo đó, độ chín nghề nghiệp sẽ đƣợc thực hiện liên tục và phải QL đƣợc quá trình này để một cá nhân đủ “chín” khi chọn nghề [121, tr. Vào những năm 1960, các nhà khoa học nhƣ E. thuộc Liên Xô (cũ) cũng có những nghiên cứu về GDHN và QL GDHN, chủ yếu tập trung vào hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà HS quan tâm, đồng thời đƣa ra những chỉ dẫn để giúp HS chọn nghề tốt hơn.
Do đó, nhằm QL tốt GDHN cho HS, nhà QLGD cần QL hiệu quả quá trình giúp HS tự nhận biết mình và QL quá trình tƣ vấn của NT đối với HS khi chọn nghề [71, tr. Từ năm 2002, các nhà làm chính sách giáo dục tại châu Âu đã nghiên cứu và xây dựng “Chính sách Châu Âu về GDHN và dạy nghề” (VET), nằm trong tài liệu có tên là “Tiến trình Copenhagen” [123, tr.26], theo đó, Bộ trƣởng giáo dục của các quốc gia họp 2 năm/lần để tổng kết và rút kinh nghiệm về GDHN và dạy nghề cũng nhƣ nhằm cải thiện QL GDHN. Đến năm 2010, Hội đồng Châu Âu đã ban hành một văn bản có tiêu đề “Động lực mới cho hợp tác ở châu Âu về GDHN và dạy nghề nhằm hỗ trợ Chiến lƣợc phát triển Châu Âu đến năm 2020” với mục tiêu đƣa ra một viễn cảnh cho HĐ này [126, tr. Nhằm cải thiện GDHN và dạy nghề, Tuyên bố chung Copenhagen năm 2002 và Thông cáo Maastricht năm 2004 đã bàn luận về nhu cầu học nghề cũng nhƣ vai trò của giáo viên hƣớng nghiệp và dạy nghề nhƣng ít nói về QL GDHN và dạy nghề.
Tuy nhiên, sau đó, Thông cáo Helsinski lại nêu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rõ: “cần nhấn mạnh đến việc QL tốt hệ thống GDHN và dạy nghề thông qua đáp ứng nhu cầu của cá nhân và TTLĐ, bồi dƣỡng đội ngũ làm công tác này, đảm bảo chất lƣợng GDHN cấp quốc gia, cải thiện XH hóa công tác này” [120, tr. Các nghiên cứu trong nước Đi chậm hơn so với sự phát triển của GDHN và QL GDHN trên thế giới, có thể nói hai lĩnh vực này mới chỉ đƣợc đầu tƣ nghiên cứu mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 bởi những nhà khoa học tâm lý, giáo dục tiên phong nhƣ Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Trần Khánh Đức… hay gần đây là các tác giả Phạm Văn Sơn, Bùi Việt Phú… trong các luận án tiến sĩ về GDHN và QL GDHN của mình. Các công trình của các tác giả tập trung vào cơ sở lý luận về GDHN, kinh nghiệm quốc tế về GDHN, những cơ sở khoa học của việc chọn nghề phù hợp cũng nhƣ phƣơng pháp QL GDHN ở trƣờng phổ thông, giới thiệu những ngành nghề trong đời sống XH… Ngay từ năm học 1975-1976, Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ và Phạm Ngọc Luận (Viện khoa học giáo dục) đã xây dựng thành công nội dung và phƣơng pháp tƣ vấn nghề nhằm định hƣớng nghề nghiệp cho thƣơng binh. Các nhà khoa học trên đã xây dựng đƣợc 12 họa đồ nghề dành cho đối tƣợng này.
Ngay sau đó, ý tƣởng tổ chức HN cho đối tƣợng HS đã đƣợc quan tâm nghiên cứu, thực hiện. Cụ thể, các nhà khoa học trên đã xây dựng đề án “HN và sử dụng hợp lý HS ra trƣờng”, trình Bộ GD&ĐT và Ủy ban cải cách giáo dục Trung ƣơng, với mục đích từng bƣớc đƣa GDHN vào NTPT, giúp HS đƣợc định hƣớng nghề nghiệp sớm và khoa học hơn. Chính sự kiện này đã bƣớc đầu đề ra nhu cầu phải QL hiệu quả GDHN trong NTPT. Ngày 19/3/1981, Chính phủ đã ban hành quyết định số 126/CP về “Công tác HN trong trƣờng phổ thông và việc sử dụng hợp lý HS các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trƣờng” [22].