Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4. Chương 2: Thực trạng quản lý dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4. 5 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG 4.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho học sinh Petxtalôdi (1746 - 1827), một trong những nhà giáo dục tiêu biểu của thế kỷ XIX, đã nghiên cứu về giáo dục đạo đức và đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đạo đức trong giáo dục học sinh. Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em trên cơ sở chung nhất là tình yêu về con người.Mác (1818 -1883), người sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học, cho rằng: “Con người phát triển toàn diện sẽ là mục đích của nền giáo dục cộng sản chủ nghĩa và con người phát triển toàn diện là con người phát triển đầy đủ, tối đa năng lực sẵn có về tất cả mọi mặt đạo đức, trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhận thức, năng lực, óc thẩm mỹ và có khả năng cảm thụ được tất cả những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra chung quanh,. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân, giáo dục trẻ em có hành vi lệch chuẩn, đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể [dẫn theo 44].
Lê Ngọc Văn (1996); nghiên cứu về “Vị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” đã đề cập đến chức năng và vai trò rất quan trọng của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em. 6 download by : skknchat@gmail.com Phạm Minh Hạc (2009) nghiên cứu về vai trò của gia đình trong giáo dục đạo đức đã chỉ rõ: “Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc - sự phấn đấu hướng thiện của từng cá nhân, nhất là của học sinh các lớp cuối cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên,…kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức trong nhà trường với gia đình và ngoài xã hội, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội”, giả đã nhấn mạnh việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên trong đó có học sinh trường trung học cơ sở là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay [34]. Phạm Tất Dong đã đi sâu vào nghiên cứu cơ sở tâm lý học của hoạt động giáo dục lao động, giáo dục hướng nghiệp, gắn kết các hoạt động này với hoạt động giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức nghề nghiệp và lý tưởng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; đồng thời đề xuất nhiều nội dung, biện pháp giáo dục trong bối cảnh mới cho học sinh, sinh viên. Huỳnh Văn Sơn nghiên cứu giá trị đạo đức và sự lựa chọn giá trị đạo đức trong định hướng lối sống của sinh viên các trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã đưa ra nhận định: Sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn của sinh viên chưa rõ ràng, còn dao động, tồn tại nhiều thái độ tiêu cực, ở một bộ phận không nhỏ sinh viên và còn chưa thống nhất giữa nhận thức với thái độ, hành vi, trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất các biện pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 do Bộ Giáo dục Việt Nam ban hành đã đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông với mục tiêu hình thành 5 phẩm chất cơ bản đó là yêu nước, nhân ái; chăm chỉ; trung thực, trách nhiệm và ý thức chức hành pháp luật cho học sinh. Nội dung giáo dục ở cấp tiểu học được gọi là giáo dục đạo đức; cấp THCS và cấp THPT gọi là giáo dục công dân. 7 download by : skknchat@gmail. Các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Phạm Minh Hạc (2002) và nhóm nhà khoa học khác nghiên cứu về: “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong đó đã nhấn mạnh giáo dục đạo đức phải là nền tảng và cần được coi trọng, quan tâm đúng mức.
Nhóm tác giả đã nêu ra các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH như tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, phương giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việc GDĐĐ cho mọi người,… [30]. Đỗ Thị Thanh Thúy (2009) đã nghiên cứu về thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS Trung Hưng và một số trường THCS thuộc địa bàn thành phố Sơn Tây từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý chỉ đạo thích hợp và khả thi về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường Trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh [49]. Nguyễn Thị Hoàng Anh (2011) đã nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm trong các trường đại học sư phạm nhằm đề xuất mô hình mới về quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên sư phạm và các giải pháp thực hiện: Đổi mới về nhận thức giáo dục đạo đức; Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức; Đổi mới hình thành tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức và xây dựng môi trường giáo dục đạo đức; vv…[1]. Nguyễn Thanh Phú (2014) nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm đã xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên các trường cao đẳng sư phạm, đề xuất các giải pháp nâng cao kết quả giáo dục đạo đức cho sinh viên trường cao đẳng sư phạm trong bối cảnh hiện nay [41].
8 download by : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Nhi (2017), nghiên cứu về các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thành phố Hà Nội đã đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay và đề xuất được các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua thực hiện các con đường giáo dục và phối hợp các lực lượng giáo dục cũng như tang cường cơ sở vật chất để giáo dục học sinh trong bối cảnh hiện nay [38]. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Đạo đức Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Nguyễn Thị Yến Phương, "Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [22]. Đạo đức hiểu theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.
Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định những chuẩn mực ứng xử của con người với bản thân, với người khác, với công việc, với thiên nhiên, với môi trường sống. Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống và nhận thức, thái độ, hành vi thực hiện các chuẩn mực đó của con người. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách con người, phản ánh bộ mặt của nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hóa. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động của con người trong các mối quan hệ và với chính bản thân góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.
Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp, giai cấp trong xã hội sẽ phản ánh ý thức chính trị của họ với các vấn đề đang tồn tại [30]. 9 download by : skknchat@gmail.com Trong giáo dục đạo đức cho học sinh thường đề cập tới chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực đạo đức là những phẩm chất đạo đức có tính chất chuẩn mực, được nhiều người thừa nhận, được dư luận xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước đo cần có của mỗi con người, chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định cần hình thành ở học sinh 5 phẩm chất cơ bản: Yêu nước, nhân ái, trung thực, chăm chỉ, trách nhiệm. Những phẩm chất đạo đức ấy được coi như mục tiêu giáo dục, rèn luyện của học sinh phổ thông nói chung và học sinh THCS nói riêng. Từ những quan niệm khác nhau ở trên, tác giả luận văn có thể khái quát đạo đức là một hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với người khác, môi trường và với chính bản thân để bảo vệ lợi ích cá nhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội.
Giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có hệ thống và có kế hoạch của giáo viên hay nhà sư phạm tới học sinh hay người được giáo dục để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với mục tiêu giáo dục và yêu cầu xã hội.