Mở đầu: Đề cập những vấn đề chung của đề tài - Nội dung: Gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trƣờng Trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các Trƣờng Trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. - Kết luận, kiến nghị - Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh luôn đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà chuyên môn nhằm mang lại hiệu quả trong công tác quản lý và góp phần cho sự phát tiển bền vững của cơ sở giáo dục và sự phát triển toàn diện cho học sinh. Trong phần tổng quan này ngƣời nghiên cứu trình bày những công trình nghiên cứu của các tác giả cũng nhƣ các quốc gia trên thế giới liên quan, cụ thể nhƣ: Theo quan điểm của nhà giáo dục Makarenkô (1939), việc giáo dục đạo đức cho học sinh đƣợc thực hiện thông qua lao động, vì lao động không những là mục tiêu giáo dục mà còn là phƣơng tiện giáo dục. Ngƣời có công trong việc thực nghiệm về giáo dục gần 20 năm ở “trại lao động Gooki và Dzezinxki” nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp.
Thành công của Macarencô ở chỗ không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp trong trƣờng mà ông đã gắn liền giáo dục lao động, trong sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội. ng đã chứng minh chân lý giáo dục của học thuyết Mác – Lênin và khái quát thành các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa rất cơ bản đó là: (1) Giáo dục trong hoạt động xã hội; (2) Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể; (3) Giáo dục trong lao động; (4) Giáo dục bằng tiền đồ viễn cảnh. Qua nghiên cứu của ông, nhiều trẻ hƣ hỏng, “tội lỗi” đã đƣợc cải tạo về tƣ tƣởng và về sau trở nên những nhà chuyên môn giỏi, công nhân lành nghề, bác sĩ, kỹ sƣ, phi công, bác học. Ngoài ra, quan điểm của ông không chỉ những trẻ hƣ hỏng cần đƣợc cải tạo trong lao động mà trẻ bình thƣờng cũng cần đƣợc giáo dục trong lao động.
Đồng thời, theo ông nhà giáo dục đạo đức phải là ngƣời có phẩm chất cao, chuẩn mực, có khả năng điều khiển và xử lý mọi cử chỉ, hành động của bản thân vì mục tiêu giáo dục con ngƣời. (Makarenco, 1962, 9) Hiroike Chikuro (1866-1938) – ngƣời khai sinh Moralogy (đạo đức học) tại Nhật Bản. Theo ôngdù làm gì, ở đâu ông luôn đặt mình vào hoàn cảnh của 9 ngƣời học, đối với ông giáo dục không phải là “dạy” mà là “gợi mở, nuôi dƣỡng”, không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức mà còn là làm lay động tâm hồn ngƣời học, khiến bản thân ngƣời học thấy mình ngày một trƣởng thành hơn. Giáo dục không còn gói gọn sau cánh cổng nhà trƣờng mà còn lan rộng ra toàn thể xã hội, thực hành giáo dục suốt đời.(Nguyễn Thu Hƣơng, 2018) Trong công tác quản lý nói chung, quản lý hoạt động dạy học đạo đức cho học sinh nói riêng, để đạt đƣợc mục tiêu trong quản lý đòi hỏi nhà quản lý phải có cách thức và những nguyên tắc khoa học.
Theo nhà nghiên cứu, nhà quản lýFrededricW.Taylor (1856-1919), ông đƣợc xem là “cha đẻ của nhữngphƣơngpháp quản trị khoa học”. Trong thời gian làm việc tại các xí nghiệp, ông đã chỉ ra các nhƣợc điểm trong cách quản lý cũ. ng đã đề xuất các nguyên tắc quản lý giúp nhà sản xuất đạt năng suất cao, tác phẩm đƣợc xuất bản vào năm 1911“Các nguyên tắc quản trị một cách khoa học(Principles ofscientificmanagement)”tại Mỹ đã mang lại hiệu quả cao, cụ thể: (1)Chia nhỏ quá trình sản xuất thành các bƣớc công việc, các thao tác, chuyển động và tiến hành loại bỏ các động tác, các chuyển động thừa; (2) Xác định nghiệm vụ, định mức cụ thể và tiến hành luyện tập cho công nhân về phƣơng pháp, thao tác hợp lý thông qua bấm giờ, chụp ảnh ngày làm việc. Công nhân không chỉ biết công việc mình đang làm mà phải biết làm sao cho tốt nhất; (3) Tuyển chọn nhân viên có sức khỏe tốt nhất, có sức chịu đựng dẻo dai nhất và có khả năng phù hợp nhất đối với từng công việc; (4) Giải phóng công nhân khỏi chức năng quản lý.
Chức năng này do bộ phận quản lý đảm nhận. Công nhân chỉ là ngƣời thực hiện các công việc và nhất thiết phải hoàn thành công việc trong phạm vi trách nhiệm; (5) Sử dụng triệt để ngày làm việc, bảo đảm cho nơi làm việc có các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở các bảng chỉ dẫn công việc; (6) Thực hiện chế độ trả lƣơng có khuyến khích đối với công nhân hoàn thành nhiệm vụ (Taylor, 1919). Với các nguyên tắc trong quản trị khoa học của Taylorlà cơ sở giúp ngƣời nghiên cứu xây dựng hiệu quả các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trƣờng THCS đạt mục tiêu. 10 Ngoài ra, theo W.Braga (2002) đã chỉ ra rằng, vai trò của việc sử dụng Internet nhƣ một hoạt động ngoài giờ lên lớp để bổ sung kiến thức đa dạng và phong phú mà hình thức này đem lại.
Tuy nhiên, những thông tin trên Internet không chỉ mang lại hữu ích mà còn có thể mang lại sự tiêu cực cho ngƣời sử dụng thông tin đó. ng nhấn mạnh, để hoạt động theo hình thức này đạt hiệu quả cao và ngăn chặn những luồng thông tin xấu thì vai trò kiểm tra, giám sát học sinh sử dụng thông tin của nhà trƣờng là rất quan trọng. (Braga, 2002, 2-9) Theo một nghiên cứu khác của A. Côchêlôp (2002) Ông nhấn mạnh rằng những thiếu sót, sai phạm trong quản lý giáo dục tại gia đình học sinh cũng nhƣ giáo dục ở nhà trƣờng là những nguyên nhân dẫn đến trẻ phạm pháp, khó dạy “Thông thƣờng nguyên nhân của sự khó dạy là những sai lầm sƣ phạm trong việc giáo dục, là sự lạc hậu, sự vụng về về mặt giáo dục”.
Từ đó ông cho rằng, để công tác giáo dục cho những đối tƣợng trên cần phải phân tích chỉ ra đƣợc một số đặc điểm tâm sinh lý để tìm ra những nguyên nhân, những biểu hiện về nhu cầu tinh thần, vật chất nhằm lựa chọn những phƣơng pháp giáo dục phù hợp nhƣ khuyến khích và trách phạt, bùng nổ cảm xúc, chuyển hƣớng trong giáo dục và phƣơng pháp tự hoàn thiện. Nghiên cứu đƣợc tiến hành trên 15,299 học sinh trung học cơ sở và 16,390 học sinh trung học phổ thông ở Mỹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố giới tính, dân tộc và độ tuổi giúp dự đoán đƣợc khuynh hƣớng “chƣa ngoan” trong học sinh. Chẳng hạn, học sinh nữ đƣợc nhìn nhận là có nhiều khả năng trở nên “hƣ hỏng” hơn học sinh nam, học sinh da trắng trở nên cá biệt nhiều hơn học sinh nhóm thiểu số, học sinh lớn tuổi thƣờng “hƣ hỏng” hơn học sinh nhỏ tuổi.
Các biến số liên quan đến môi trƣờng nhà trƣờng nhƣ qui mô trƣờng, cấp học, thành tích trƣờng, trƣờng có hay không cung cấp suất ăn trƣa cho học sinh chƣa thể hiện đƣợc sự ảnh hƣởng đến hành vi lệch chuẩn đạo đức của mỗi học sinh. Nghiên cứu này đề cao môi trƣờng học lành mạnh. Trong môi trƣờng đó, thể hiện mối quan hệ tốt đẹp giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với giáo viên và 11 học sinh có cảm giác gắn bó, thuộc về môi trƣờng đó sẽ làm thúc đẩy học sinh rèn luyện, trách xa những hành vi xấu, thiếu chuẩn mực đạo đức. (Jessica Damron, 2011) Ngoài ra, vấn đề giáo dục đạo đức cũng đƣợc nhiều quốc gia trên thế giới nhƣ Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Singapore….
Đặc biệt quan tâm và chú trọng, cụ thể nhƣ: Tại Nhật Bản, ngành giáo dục đƣợc xem là hàng đầu thế giới với triết lý “con ngƣời = đạo đức” và đề cao tuyệt đối tính kỷ luật và tinh thần tự lập. Giáo dục đạo đức tập trung vào ba điểm: lòng tôn trọng cá nhân, quan hệ cá nhân và cộng đồng. Khác với nhiều nƣớc thực hiện giáo dục đạo đức chủ yếu thông qua các môn học trong chƣơng trình giáo dục phổ thông, Nhật Bản thực hiện giáo dục đạo đức qua toàn thể các môn học, qua các hoạt động đặc biệt và qua sinh hoạt hằng ngày và xem giáo dục đạo đức là cối lõi. (“Tìm hiểu về giáo dục đạo đức của một số nƣớc trên thế giới”, n.) Ở Mỹ, ngƣời ta giáo dục cho học sinh theo những nội dung riêng, những nhà giáo dục luôn xác định giáo dục cho công dân của họ là sự tin cậy, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm luôn đặt lên hàng đầu và công bằng, quan tâm và cả bổn phận công dân.
Nền giáo dục Mỹ đƣợc thực hiện với hai mục đích chính nhƣ: (1) giáo dục học sinh về mặt trí tuệ; (2) giáo dục học sinh có đạo đức tốtthông qua những phƣơng pháp nhƣ là: nêu gƣơng, giải thích, cổ vũ, khích lệ, bảo đảm môi trƣờng đạo đức, trải nghiệm và kỳ vọng vào sự ƣu tú. (Russell, 2012) Ở Thái Lan, mục tiêu giáo dục đạo đức là giúp học sinh nhận thức đƣợc những điều tốt, biết quan tâm đến điều tốt và làm điều tốt thông qua những phƣơng pháp học tập hợp tác, thảo luận nhóm, sắm vai, trải nghiệm, lễ hội với các nội dung nhƣ: lòng tin, trung thực và nói sự thật; tôn trọng, lịch sự và nhã nhặn; trách nhiệm, tính công bằng; sự chu đáo, tốt bụng, lòng thƣơng; ý thức công dân. (“Tìm hiểu về giáo dục đạo đức của một số nƣớc trên thế giới”, n.) Nhìn chung, qua các công trình nghiên cứu của các tác giả và các quốc gia trên thế giới cho thấy công tác quản lý cũng nhƣ việc tổ chức hoạt động giáo dục 12 đạo đức với những nội dung, phƣơng pháp, mục tiêu giáo dụcvà nhiều hình thức hoạt động giáo dục đạo đức cho ngƣời học khác nhau. Các công trình nghiên cứu ở trong nƣớc Trong thời đại nào, con ngƣời luôn đều đƣợc đánh giá theo những chuẩn mực đạo đức nhất định.
Đạo đức trở thành mục tiêu, động lực để phát triển xã hội.