phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục nghiên cứu, luận văn có cấu trúc 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trung tâm giáo dục thường xuyên. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN QUẬN 12 THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề. Các nghiên cứu ngoài nước. Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng nhƣ tƣơng lai, chúng đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dƣ luận xã hội.
Những tƣ tƣởng đạo đức, giá trị đạo đức, đạo đức học đã đƣợc hình thành hơn 26 thế kỷ trƣớc đây trong triết học phƣơng Đông: Trung Quốc, Ấn Độ,… và triết học phƣơng Tây: Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại,… Ở phƣơng Đông, ngƣời Trung Quốc cổ đại đã có những quan điểm đạo đức học rất sớm. Đạo ban đầu chỉ có nghĩa là con đƣờng đã đi theo Thuyết Văn giải tự, về sau có thêm nghĩa là con đƣờng có chí hƣớng nhất định, hƣớng dẫn hành vi con ngƣời theo một phƣơng hƣớng nào đó. Nói tóm lại, đạo là con đƣờng sống của con ngƣời trong xã hội. Đức trong nghĩa thông dụng của ngƣời Trung Quốc cổ đại chỉ đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, thẳng thắn của con ngƣời.
Đức thƣờng đƣợc hiểu là biểu hiện của đạo. Nói đạo đức liền nhau thƣờng để chỉ những yêu cầu, những nguyên tắc cuộc sống đặt ra, đòi hỏi mọi ngƣời tuân theo. Theo quan điểm của Khổng Tử ( 551- 479 – TCN ), “đạo” và “đức” gắn chặt với nhau. Bao quát những quan hệ lớn nhất theo Nho giáo, Kinh Lễ nêu ra mƣời đức là: “cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời, trƣởng có ân, ấu ngoan ngoãn, vua nhân, tôi trung”.
Ở phƣơng Tây, tƣ tƣởng đạo đức học của ngƣời Hy Lạp cổ đại chú trọng lý 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải sự hình thành các chuẩn mực luân lý và tập tục, tìm cách phân biết thật- giả, thiện - ác,… Các nhà triết học - thần học coi con ngƣời và xã hội chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó. Mọi biểu hiện đạo đức của con ngƣời đều là sự thể hiện cái thiện tối cao từ đấng siêu nhiên. Đạo đức học lúc này đƣợc coi là học thuyết về phẩm hạnh. Nhà triết học Socrat (470 – 399 – TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau.
Có đƣợc đạo đức là nhờ sự hiểu biết, chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384 – 322 – TCN) lại cho rằng không phải hy vọng vào thƣợng đế áp đặt để có ngƣời công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất tạo nên đƣợc con ngƣời hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Học thuyết Mác – Lênin quan niệm: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo.
Đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc. Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con ngƣời, đạo đức là vấn đề thƣờng xuyên đƣợc đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển: “Đạo đức đã trở thành mục tiêu, đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội” [18,tr 47] và “Đạo đức cũng nhƣ ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là nhƣ vậy chừng nào con ngƣời còn tồn tại” [17,tr21]. Các nghiên cứu trong nước. Ở nƣớc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời Việt Nam đầu tiên tiếp thu những quan điểm đạo đức Mác – Lênin và đã làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức.
Ngƣời quan niệm đạo đức mới: Đạo đức Cách mạng: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài ngƣời” [20, tr 377]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã đƣợc hình thành phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc, là sự vận dụng sáng tạo tƣ tƣởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phƣơng Đông và phƣơng Tây. Hồ Chí Minh xem xét đạo đức trên cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận, Ngƣời đã có những quan điểm sâu sắc và toàn diện về đạo đức. Về thực tiễn, Ngƣời luôn coi thực hành đạo đức là một mặt đặc biệt quang trọng.Lênin, Hồ Chí Minh đào tạo các chiến sĩ cách mạng không chỉ bằng chiến lƣợc, sách lƣợc mà còn bằng chính tấm gƣơng đạo đức trong sáng của mình. Nhƣ vậy, theo Hồ Chí Minh: Học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng không chỉ để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà còn để xây dựng chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có con ngƣời xã hội chủ nghĩa.
Muốn có ngƣời xã hội chủ nghĩa phải có tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa” [19,T9, tr296]. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cấp thiết. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức của các tác giả: GS.TS Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hƣớng giá trị đạo đức con ngƣời Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nƣớc và nêu lên 6 biện pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con ngƣời Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trƣờng học, củng cố ý tƣởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục trung tâm trong việc giáo dục đạo đức cho con ngƣời, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nƣớc và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trƣớc hết cho cán bộ Đảng viên, cho thầy cô các trƣờng học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi ngƣời” [17,tr172-176]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.TS Đặng Vũ Hoạt đã đi sâu nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh và đƣa ra một số định hƣớng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phƣơng pháp giáo dục đạo đức cho học sinh cho học sinh trƣờng phổ thông.TS Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội và nhân văn, rèn luyện phƣơng pháp tƣ duy khoa học để trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dƣỡng ý thức đạo đức, hƣớng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh.TS Phạm Khắc Chương nghiên cứu: Một số vấn đề giáo dục đạo đức ở trƣờng trung học phổ thông - rèn ý thức đạo đức công dân.
Một số luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục cũng nghiên cứu vấn đề này nhƣ: Lê Quang Tuấn (2008) Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Cẩm Xuyên – Hà Tĩnh; Hoàng Minh Toàn (2011) Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Cộng Hiền – Hải phòng trong giai đoạn hiện nay. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên đi sâu vào việc xác định các nội dung GDĐĐ, định hƣớng các giá trị đạo đức, các biện pháp GDĐĐ cho học sinh. Nhƣng, hiện nay ít có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh tại các trung tâm GDTX nói chung và trung tâm GDTX Quận 12 nói riêng. Vì vậy, tôi chọn đề tài giáo dục đạo đức và các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung tâm GDTX Quận 12 - thành phố Hồ Chí Minh.
Một số khái niệm cơ bản. Tồn tại xã hội và ý thức xã hội là 2 bộ phận của một xã hội. Xét đến cùng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội. Con ngƣời cũng là một thực thể 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xã hội, do đó,con ngƣời có 2 đặc tính: tính xã hội và tính tự giác.
Hai đặc tính này luôn quy định và chế ƣớc lẫn nhau. - Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học XH) thì: “Đạo đức là những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con ngƣời đối với nhau và đối với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con ngƣời theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp nhất định” [ 30,tr 211] - Theo giáo trình “Đạo đức học” (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội – Năm 2000): “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con ngƣời trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dƣ luận xã hội” [18,tr 8].