Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở 1. Trường trung học cơ sở và học sinh trung học cơ sở 1. Trường trung học cơ sở Điều 2: Điều lệ trường trung học quy định: “Trường trung học cơ sở là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc trung học cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông.
Trường trung học cơ sở có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng”[7]. Trường trung học cơ sở (THCS) là bậc học trung gian giữa tiểu học và trung học phổ thông, là giai đoạn quan trọng mà học sinh cần phải bổ sung đầy đủ kiến thức cơ bản của bậc học tiểu học và tích lũy đầy đủ, toàn diện kiến thức của bậc THCS để chuẩn bị học lên trung học phổ thông hoặc học tiếp vào các trường nghề hoặc trung học chuyên nghiệp. Giáo dục THCS được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp 6 đến lớp 9, học sinh vào học lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có độ tuổi là mười một tuổi. Chất lượng học tập của học sinh ở bậc này quyết định năng lực làm việc, tư duy sáng tạo, kỹ năng sống của mỗi con người.
Học sinh trường trung học cơ sở. Khái niệm học sinh trung học cơ sở. Căn cứ vào các năm học và độ tuổi, có thể xác định khái niệm học sinh THCS như sau: Học sinh THCS là những học sinh có độ tuổi từ 11 đến 15 đang học từ lớp 6 đến lớp 9 tại trường THCS. Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở.
Học sinh tuổi từ 11 - 15 tuổi là giai đoạn phát triển của tuổi thiếu niên, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9). Lứa tuổi này có vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác (LUAN.NAY 9 Luan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.NAY nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”.Học sinh THCS có một số đặc điểm tâm lý cơ bản sau: Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động…của các em. Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên. Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Những yếu điểm của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn. Về nhận thức, Các em có nhu cầu, khao khát khám phá cái mới trong cuộc sống. Đây là điều kiện để phát triển tư duy của trẻ, nhất là tư duy lý luận và logic.
Nhu cầu khám phá cái mới này cũng dẫn các em đến việc tìm hiểu những vấn đề không phù hợp với chuẩn mực xã hội. Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu tự khẳng định cao. Về mặt cảm xúc, học sinh THCS đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tình bạn. Nhu cầu giao tiếp với bạn rất lớn, trong đó có tình bạn khác giới.
Tình bạn khác giới nhiều khi ảnh hưởng tiêu cực đến học tập và cuộc sống của học sinh lứa tuổi này như sao nhãng học tập, buồn vui, cáu gắt, sống hướng nội, ít chia sẻ với cha mẹ, dễ bị tình cảm của bạn bè cùng trang lứa tác động. Về mặt hành vi, học sinh THCS có nhu cầu khám phá cái mới, nên luôn có mong muốn và thực hiện trải nghiệm cái mới để khẳng định cái tôi của mình, khẳng định sự trưởng thành của mình trước mọi người. Đây là một nguyên nhân lý giải cho một bộ phận học sinh THCS đua xe trái phép, nghiện hút ma túy, nghiện game oline, nghiện internet, tham gia vào bạo lực học đường…Ngoài ra, do nhu cầu tự khẳng định cao, nên đôi khi các em có hành vi phản ứng, chống đối lại bố mẹ, hay người lớn tuổi. Một số em bỏ nhà ra đi tham gia vào các nhóm bạn không chính thức tiêu cực.NAY 10 Luan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.NAY Đặc điểm tâm lý trên liên quan trực tiếp đến nhận thức, cảm xúc và hành vi đạo đức của học sinh lứa tuổi này.
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở. Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, đã được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học như: triết học, đạo đức học, giáo dục học, tâm lý học…. với mỗi lĩnh vực nghiên cứu các khái niệm đạo đức được đưa ra như sau: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự” dưới góc độ triết học [21].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cỏi cú trong mối quan hệ của con người với con người” dưới góc độ Giáo dục học [17]. Trong luận văn này, khái niệm đạo đức được xác định như sau: Đạo đức là những qui tắc, chuẩn mực trong quan hệ xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện. Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới những phạm trù: Thiện và ác; Có lương tâm và bất lương tâm; Có trách nhiệm và tắc trách; Hiếu nghĩa và bất nghĩa, bất hiếu; Vinh và nhục; Hạnh phúc và bất hạnh; Tính ngay thẳng, lòng trung thực; Tính nguyên tắc, sự kiên tâm; Tính khiêm tốn, sự lễ độ; Tính hào hiệp, sự tế nhị; Tính tiết kiệm, sự giản dị; Lòng dũng cảm, phẩm chất anh hùng. Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.
Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động và giáo dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen, hành vi, chuẩn mực về đạo đức.NAY 11 Luan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.NAY Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và hình thành những thói quen, hành vi đạo đức trong đời sống xã hội. Vì vậy giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng. “giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”. Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm giáo dục đạo đức của tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, khái niệm này được xác định như sau: Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen, hành vi đạo đức của người được giáo dục [24].
Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh a. Mục tiêu của giáo dục đạo đức cho học sinh. 1) Về kiến thức - Học sinh nắm được các chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính pháp luật - Học sinh nắm được các chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ với bản thân, gia đình, cộng đồng xã hội - Học sinh nắm được các chuẩn mực đạo đức trong các mối quan hệ với môi trường tự nhiên 2) Về thái độ - Hình thành ở học sinh trường trung học cơ sở có thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân; - Hình thành ở học sinh có trách nhiệm với hành động của bản thân, hành động mang tính lương tâm. - Hình thành ở học sinh thái độ yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái xấu - Hình thành ở học sinh thái độ tôn trọng những giá trị đạo đức truyền thống và giá trị nhân cách phù hợp với thời đại, tôn trọng những qui định của nhà trường và pháp luật.
3) Về hành vi: - Hình thành ở học sinh hành vi tôn trọng pháp luật và tuân thủ pháp luật một cách tự giác và có trách nhiệm.NAY 12 Luan van thac si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.NAY - Hình thành ở học sinh hành vi hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, tương thân, tương ái với tinh thần tự giác và có trách nhiệm cao. - Hình thành ở học sinh hành vi đánh giá, nhận xét bản thân trong mối quan hệ với mọi người và cộng đồng xã hội. - Hình thành ở học sinh hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực xã hội. Nội dung của giáo dục đạo đức cho học sinh.
1) Giáo dục cho học sinh các chuẩn mực đạo đức thể hiện tư tưởng chính trị, thực hiện pháp luật: Giáo dục cho học sinh lòng yêu quê hương đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu chế độ. Đây là một nội dung quan trọng của giáo dục đạo đức cho học sinh. Nó quyết định nhân cách của một công dân, một thành viên xã hội. Giáo dục cho học sinh tinh thần tự tôn, tự cường, tự hào dân tộc.
Điều này được thể hiện qua hành động thực tiễn của học sinh, qua quan hệ của học sinh với công dân của các quốc gia khác.