Chương I. CƠ SỞ Li LUAN VE QUAN LY HOAT DON GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Ở phương Tây, stotle (384 - 322 TCN) là nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng: “Trước tiên học đạo đức rồi sau đó học tri thức, không có đạo đức, trì thức khó thành đạt”.
Thời cổ đại, nhà triết học Soerate (469 - 399 TTCN) cho rằng: Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan tỏa thì con người sẻ có hạnh phúc”. Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Soerate phải nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học. Ngày nay, các nước trên thế giới rất coi trọng việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Ở Singapore mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh là nhằm thúc đây sự phát triển tỉnh thần, đạo.
đức, văn hóa và thể chất của học sinh. Với Nhật Bản, giáo dục dao dire cho học sinh là nhằm bồi dưỡng tỉnh thần tôn trọng nhân cách con người, bồi dưỡng giá trị Chân - Thiện - Mỹ. Còn ở Hoa Kỳ việc giáo dục đạo đức cho. học sinh được quan tâm đặc biệt.
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN) là nha hién triết nỗi tiếng của Trung Quốc đồng thời là nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo. Ông xây dựng học thuyết *Nhân - Lễ - Chính - Danh”, trong đó, Nhân” - Lòng yêu thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản của con người. Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, ông có câu nói nỗi tiếng truyền lại đến ngày nay “ đạo đức và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp giáo dục, tâm lý giáo. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của giáo dục Nho giáo được thể hiện trong bộ sách Tứ thư và Ngũ kinh.
Nhưng cụ thể và tập trung nhất là nêu trong Luận ngữ (sách ghỉ lời nói, việc làm của Khổng Tử và một số môn đỏ), nội dung hướng tới bồi dưỡng con người có được đức nhân, thành người quân tử có đủ phẩm cách và năng lực để thi hành "đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Không Tử quan niệm sự hiểu biết không phải sinh ra đã có sẵn mà phải được trích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá công phu. Các đức tính như nhân, trí, t tín, trực, dũng. cương cần phải học tập rèn luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, vận dụng hoàn hảo.
Ông coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên hàng đầu. Ông từng căn dặn học trò rằng: “Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng, nên ít lời và đã nói thì phải thành thật, nên thân yêu rộng khắp mọi người "(34, Tr. Các nghiên cứu trong nước. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của cách mạng.
Nội dung cơ bản trong quan điểm đạo đức cách mạng là: Trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; yêu thương con người: tỉnh thần quốc tế trong sáng. Quan điểm của Người về đạo đức mang. tính khoa học, biện chứng, Mác-xít, phù hợp với sự tiến hóa của xã hội loài người. Để có được đạo đức cách mạng mọi người phải rèn luyện, tu dưỡng, kiên trì bền bi suốt đời: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuối 1g, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và cũng cố; cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng cảng luyện càng trong” [20].
Trong bức thư cuối cùng gửi ngành đang tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng chống lại sự xâm lược tàn bạo của để quốc Mỹ, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục dạy tốt và học tốt. Trên nên tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tối, phải phắn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do Cách mạng nước ta đề ra và trong một thời gian không xa đạt những đỉnh cao của khoa học kĩ thuật " [23]. Tham nhuan tu tưởng của Hồ Chí Minh, trong phần nhiệm vụ - giải pháp của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi ăn bản, toàn điện giáo dục và đào tạo, đã nêu: “Đôi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, tri, thé, mũ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tỉnh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề: tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, trì thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tỉnh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, đảm bảo năng lực sử dụng của người học.
Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiêu số; dạy Tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc. cho người Việt Nam ở nước ngoài” [5]. Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương khóa XI: "Định hướng xây dựng và phát triển văn hóa, con người” với mục tiêu chung: tây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mĩ, thấm nhuần tỉnh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tỉnh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giảu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [6].
Và xác định nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong thời kỳ mới, đáp ứng những yêu cầu mới của xã hội: với trọng tâm là bồi dưỡng tỉnh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức lối sống và nhân cách. chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người 'Việt Nam đề iểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân — ~ mỹ. Gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập. Đúc kết và xây dựng. hệ thống giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [6]. Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn, tiêu biểu như: giáo trình đạo đức học của Trần Hậu Kiểm - Đoàn Đức Hiếu (2004); giáo trình đạo đức học của Phạm Khắc Chương - Hà Nhật Thăng.
Khi nghiên cứu về iáo dục đạo đức các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức. VỀ mục tiêu giáo dục đạo đức, tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu rõ: “Trang bị cho mọi người những tri thức cần thiết vẻ tư tưởng chính tri, dao 10 đức nhân văn, kiến thức pháp luật và văn hóa xã hội. Hình thành ở mọi công dân thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và với mọi hiện tượng xảy ra xung quang. Tổ chức tốt giáo dục giới trẻ; rèn luyện đề mọi người tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, có thói quen chấp hành những quy định của pháp luật, nỗ lực học tập và rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đắt nước” [1].
Đồng thời, tác giả Phạm Minh Hạc cũng nêu lên các định hướng. đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đắt nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học, cũng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho con người, kết hợp chặt chẽ việc giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan th hành pháp luật: tổ chức thống nhất các phong trảo thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho thầy cô giáo các trường học; xây dựng một cơ chế tô chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [12]. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý và quản lý giáo duc 1.Quén lý Theo nghĩa rộng, "Quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Quản lý chính là hoạt động do một hoặc nhiều người điều hành phối hợp hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn” [4]. Theo tác giả Phạm Khắc Chương: "Quản lý một đơn vị với tư cách là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống. vào " từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu để ra” [13, tr6]. Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận và khái niệm khác nhau về quản lý, nhưng nhìn chung các định nghĩa đều thể hiện: Quan lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thê quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Tính mục đích là thuộc tính vốn có trong hoạt động xã Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Bởi vậy, trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý, nhà quản lý phải hết sức linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo để chỉ đạo cho các hoạt động của tổ chức một cách khoa học nhằm đạt mục đích đã đề ra của tổ chức.