Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về dạy học tiếp cận năng lực và hoạt động giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực người học Ở nước ngoài, có khá nhiều công trình và tác giả đề cập đến vấn đề dạy học tiếp cận năng lực, trong đó có hoạt động giảng dạy định hướng phát triển năng lực người học. Blank (1982) trong cuốn Handbook for Devoloping CompetencyBased Training Programs (Cẩm nang phát triển chương trình đào tạo dựa trên năng lực) [107] đã chỉ rõ: Để hình thành, PTNL thực hiện ở người học, chương trình đào tạo phải được xây dựng trên cơ sở phân tích nghề, phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ năng lực người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các gói học tập, cải tiến và quản lý chương trình đào tạo. Có thể nói những cơ sở để phát triển chương trình mà William E.
Blank nêu ra cũng là những cơ sở chính của hoạt động giảng dạy theo hướng PTNL người học. Tác giả Shirley Fletcher (1995) trong công trình Designing Competece Based Training (Đào tạo dựa trên năng lực) [105] đã trình bày cơ sở khoa học của thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo, các kỹ thuật phân tích nhu cầu người học, phân tích công việc, từ đó xây dựng mô đun dạy học và khung chương trình. Qua đây ta có thể hiểu rằng, đào tạo theo hướng PTNL phải dựa trên xác định mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, hiểu nhu cầu của người học, hiểu công việc tương lại của họ, trên cơ sở đó hướng các nỗ lực sư phạm vào hình thành ở người học những năng lực cần thiết. Paprock (1996) trong công trình Conceptual structure to develop adaptive competencies in professional (Khái niệm phát triển năng lực thích 16 ứng chuyên môn) [99] đã cho rằng, đặc điểm của dạy học tiếp cận năng lực là: dựa trên triết lý người học là trung tâm, đáp ứng được các đòi hỏi của chính sách, bám sát cuộc sống thật, rất linh hoạt và năng động, hướng tới những tiêu chuẩn về năng lực cần hình thành ở người học.
Trong công trình của các tác giả Jean Marc Denommé và Madeleine Roy (2000) Pour une pédagogie interactive, (Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác) [50] đã nêu ra cấu trúc dạy học gồm 3 thành phần cơ bản là: người học người dạy môi trường, trong đó người dạy có trách nhiệm chỉ cho người học cái đích, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú và đưa họ tới đích. Chức năng của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu. Người dạy phục vụ người học. Do đó, người dạy có vai trò quan trọng đối với sự PTNL ở người học thông qua việc thúc đẩy, định hướng và tạo điều kiện cho người học khám phá tri thức, rèn luyện kỹ năng.
Rodger (2001), trong công trình Approaches and Methods in Language Teaching (Cách tiếp cận và phương pháp giảng dạy ngôn ngữ) [102] cho rằng: Tiếp cận năng lực trong dạy học đòi hỏi phải tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được. Vì vậy, trong hoạt đông giảng dạy, giáo viên phải chú trọng lựa chọn nội dung và phương pháp tổ chức thực hành cho người học. Kerka (2001) trong công trình Competencybased education and training (Giáo dục và đào tạo dựa trên năng lực) [97] đã chỉ ra những nét đặc trưng của dạy học tiếp cận năng lực, đó là: cho phép cá nhân hóa việc học, giúp bổ sung những thiếu hụt về năng lực so với đòi hỏi của nhiệm vụ mà người học sẽ thực hiện, chú trọng đến kết quả đầu ra, hoạt động dạy và học diễn ra linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân, việc đo lường kết qua học tập của người học dựa trên các tiêu chuẩn rõ ràng. Beerens (2003) trong Evaluating Teachers for Professional Growth: Creating a cuture of Motivation and learning (Đánh giá sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên: Tạo động lực và thúc đẩy học tập) [92] đã ví giáo viên như là chìa khóa của chất lượng và sự thành công trong giáo dục ở bất kỳ hệ thống giáo dục của bất kỳ xã hội nào.
Theo Ingvarson Lawrence, Rowe Ken (2008) [95], Uỷ ban Quốc gia về Tiêu chuẩn Giảng dạy Chuyên nghiệp của Hoa Kỳ (NBPTS) đã xây dựng 26 bộ tiêu chuẩn giảng dạy khác nhau. Những tiêu chuẩn này xác định, hoạt động giảng dạy của giảng viên trình độ cao cần đảm bảo 4 tiêu chuẩn, đó là: (1) đảm bảo những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho quá trình học tập của sinh viên; (2) tạo môi trường điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập của sinh viên; (3) thúc đẩy sinh viên học tập và nghiên cứu khoa học ; (4) hỗ trợ cho sinh viên trong quá trình học tâp, nghiên cứu. Pollock (2011) trong sách Các phương pháp dạy học hiệu quả, [66] cho rằng: giáo viên là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến thành tích học tập của người học, họ không chỉ là người truyền thụ kiến thức mà còn là người tổ chức, hướng dẫn và xây dựng động cơ, thái độ tích cực cho người học trong quá trình dạy học. Phương pháp hiệu quả trong giảng dạy theo hướng năng lực học sinh là khích lệ học tập và công nhận những cố gắng của học sinh; hướng dẫn họ lập mục tiêu, kế hoạch học tập, gợi ý, đặt câu hỏi và khung thông tin để học sinh thực hiện các hành động học tập… Làm được như vậy sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh và thúc đẩy sự PTNL của họ.
Các tác giả Todd Whitaker, Beth Whitaker và Dale Lumpa (2013) trong công trình Motivating & Inspiring Teachers: The Educational leader’s Guide for Buiding Staff Morale (Tạo động lực và gây hứng thú cho giáo 18 viên) [106] khẳng định rằng, giảng dạy là công việc hàng ngày của người dạy, họ phải tiến hành công việc này một cách đầy nhiệt huyết, với trạng thái tinh thần tích cực. Vì vậy, người giáo viên phải có những động cơ nghề nghiệp đúng đắn và mạnh mẽ. Đây cũng có thể coi là một điều kiện chủ quan để ĐBCL hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả và công trình khoa học đề cập đến các khía cạnh khác nhau của dạy học tiếp cận năng lực và giảng dạy định hướng PTNL người học.
Tác giả Vũ Lệ Hoa (2008), trong Luận án tiến sĩ Biện pháp vận dụng quan điểm sư phạm tương tác trong dạy học môn giáo dục học ở các trường đại học sư phạm, [41] cho rằng, người dạy là người hướng dẫn, đi cùng, tạo thuận lợi trong phương pháp học của người học nhằm đạt tới mục tiêu học. Vì vậy, hoạt động giảng dạy của người dạy thực chất là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, tạo cảm hứng học tập, qua đó tác động đến sự phát triển phẩm chất, năng lực người học. Tác giả Nguyễn Văn Lịch (2010), trong tham luận khoa học “Thực trạng nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học và một số kiến nghị”, [59] đã cho rằng, giảng dạy mà không nghiên cứu thì không thể nâng cao, hoàn thiện kiến thức, cũng như phương pháp giảng dạy, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu. Do đó, theo tác giả, trường đại học đòi hỏi và tạo điều kiện cho giảng viên nghiên cứu khoa học sẽ góp phần làm cho hoạt động giảng dạy đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Tác giả Nguyễn Văn Khải (2013), trong luận án tiến sĩ Quản lý chất lượng dạy học lâm sàng cho điều dưỡng viên trình độ đại học tại các trường đại học y Việt Nam [51] cho rằng, dạy và học là hai mặt của một quá trình, luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông qua hoạt động cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần hoàn thiện nhân cách. Để đạt được điều 19 đó, người dạy phải biết gợi mở, hướng dẫn, dạy cho người học cách tìm kiếm thông tin và xử lý thông tin, từ đó vận dụng chúng. Tác giả nhấn mạnh rằng, người dạy phải thiết kế, tổ chức hoạt động dạy học bằng cách lập kế hoạch dạy học và điều khiển quá trình nhận thức của người học. Qua đây ta có thể hiểu rằng, trong dạy học người dạy đóng vai trò tổ chức hoạt động học của người học, từ đó tác động đến sự phát triển phẩm chất, năng lực của họ.
Tác giả Trần Khánh Đức (2014), trong công trình Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, [29] đã khẳng định: Người giáo viên trong nền giáo dục hiện đại không chỉ được coi là người truyền thụ cái đã chính thống, người cung cấp những thông tin được soạn thảo trên cơ sở những điều có sẵn, người thừa hành mà phải là người đề xướng, thiết kế nội dung và phương pháp dạy học nhằm làm thay đổi những thị hiếu, hứng thú người học, giúp cho học sinh biết cách học, cách rèn luyện. Đề cập tới tổng kết của UNESCO, tác giả đã chỉ ra những thay đổi lớn về vai trò của giáo viên trong giáo dục hiện đại, đó là: (1) Đảm nhận nhiều chức năng khác hơn so với trước, có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục; (2) Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của học sinh, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội; (3) Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thày trò; (4)Yêu cầu sử dụng rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại; (5) Hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với đồng nghiệp; (6)Thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng; (7) Tham gia rộng rãi vào các hoạt đồng trong và ngoài nhà trường. Những luận điểm mà Trần Khánh Đức nêu ra ở đây có thể vận dụng vào hoạt động giảng dạy của giảng viên theo hướng PTNL người học. Tác giả Nguyễn Thu Hà (2014), trong bài viết “Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục: Một số vấn đề lý luận cơ 20 bản” [33] đã chỉ rõ, giảng dạy theo năng lực thực chất là hướng những nỗ lực sư phạm của người dạy vào hình thành cho người học những năng lực cần thiết.
Để đạt được điều đó cả hoạt động giảng dạy và học tập phải được thực tiện theo tiếp cận năng lực. Đồng thời việc đánh giá kết quả dạy học phải dựa trên những tiêu chí về năng lực cần có của người học.