Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo ở nước ngoài Từ giữa thế kỷ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mỹ, John Dewey, với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education) đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục. Với triết lý giáo dục đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn.
Kolb (1984) cũng đưa ra một lý thuyết về học từ trải nghiệm (Experiential learning), theo đó, học là một quá trình trong đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm; nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm. Một số quan niệm khác của các học giả quốc tế cho rằng giáo dục trải nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995); học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995); chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin, 1995). Năm 2009, chương trình giáo dục Hàn Quốc đã đưa hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo thành nội dung môn học trong chương trình của nhà trường phổ thông bao gồm: hoạt động tự chủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động từ thiện, hoạt động định hướng phát triển bản thân. Những nghiên cứu về hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo ở trong nước Hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo là các hoạt động định hướng giáo dục.
Cách gọi tên có thêm cụm từ “sáng tạo” nhằm mục đích nhấn mạnh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com vai trò của chủ thể hoạt động và mục đích, ý nghĩa của loại hoạt động này. Triển khai hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo chính là thực hiện quan điểm, định hướng “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Từ thời kỳ đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên người có đức tài là “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đây cũng là nguyên lý giáo dục được quy định trong Luật giáo dục Việt Nam [28].
Tuy vậy, trong thời gian vừa qua, do cách hiểu và cách làm, Giáo dục và Đào tạo chưa đạt được nhiều thành công trong việc thực hiện nguyện lý này. Trong thời gian gần đây, theo yêu cầu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, một hoạt động giáo dục được biết đến với tên gọi là “hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo” đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục và giáo viên: - Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo vào trong chương trình giáo dục phổ thông, giúp các nhà trường khắc phục những hạn chế tồn tại trong chương trình giáo dục hiện nay, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục. - Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2014-2015, 2015- 2016 của bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các sở Giáo dục và Đào tạo đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh. - Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Kỷ yếu hội thảo “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo khoa học kỹ thuật trong trường Trung học” [7].
- Bùi Ngọc Diệp (2015), “Hình thức tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 113- tháng 02/2015, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam [15]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Nguyễn Thị Hiền (2014), “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo kinh nghiệm Hàn Quốc và Việt Nam”, Tạp chí giáo dục, 308 (1), tr. - Đinh Thị Kim Thoa (2014), Trải nghiệm sáng tạo, hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Đại học Giáo dục [33]. - Đỗ Ngọc Thống (2015), “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ kinh nghiệm giáo dục quốc tế và vấn đề của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học giáo dục, 115(1), tr.
- Ngô Thị Tuyên (2015), “Khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo”, Công nghệ giáo dục - tin tức [38],. Có thể nói, hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo không hoàn toàn xa lạ đối với giáo dục Việt Nam, tuy nhiên để triển khai thực hiện hoạt động giáo dục này một cách có hiệu quả tại các trường Trung học cơ sở thì nhà quản lý giáo dục chiếm một vai trò rất quan trọng. Thực tế từ trước đến nay, Thái Bình chưa có công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở, mà thực tiễn hiện nay lại đòi hỏi rất nhiều. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh Trung học cơ sở tại Thái Bình, đặc biệt là các trường Trung học cơ sở thuộc huyện Kiến Xương là việc làm hết sức cần thiết.
Các khái niệm công cụ 1. Hoạt động giáo dục Trong chương trình giáo dục phổ thông mới của Việt Nam, hoạt động giáo dục (theo nghĩa rộng) bao gồm hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp). Hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) là "những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch, có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục" [6 tr 25]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Các hoạt động giáo dục (theo nghĩa hẹp) bao gồm: - Hoạt động tập thể (sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường, sinh hoạt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh).
- Hoạt động GDNGLL được tổ chức theo các chủ đề giáo dục. - Hoạt động giáo dục hướng nghiệp, giúp học sinh tìm hiểu để định hướng tiếp tục học tập và định hướng nghề nghiệp. - Hoạt động giáo dục nghề phổ thông (cấp Trung học phổ thông). Trải nghiệm a) Khái niệm Theo quan điểm của triết học, trải nghiệm được hiểu là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới khách quan.
Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả các hoạt động thực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kỹ thuật và kỹ năng, cả những nguyên tắc hoạt động và phát triển thế giới khách quan. Nhà triết học vĩ đại người Nga Solovyev V. quan niệm rằng trải nghiệm là kiến thức thực tế, là thể thống nhất bao gồm kiến thức và kỹ năng. Trải nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Qua nghiên cứu các tài liệu triết học, ta có thể thấy một số cách định nghĩa về trải nghiệm: - Trải nghiệm là một phạm trù của triết học, được đúc rút từ toàn bộ các hoạt động của con người ở mọi mặt, như một thể thống nhất giữa kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí. Đặc trưng bằng cơ chế kế thừa di sản xã hội, lịch sử, văn hóa. - Trải nghiệm là một phạm trù của nhận thức luận, được đúc kết từ sự thống nhất của hoạt động tình cảm, nhận thức. - Trải nghiệm là kiến thức mà ngay lập tức cho chủ thể ý thức được và có cảm giác tiếp xúc trực tiếp với thực tế, cho dù đó là một thực tế bên ngoài của các đối tượng và tình huống (nhận thức), hoặc các thực tại của trạng thái ý thức (quan niệm, những kỷ niệm, xúc động.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Trong các tài liệu sư phạm học, lý thuyết về trải nghiệm trở thành đối tượng nghiên cứu. Trải nghiệm dưới góc nhìn sư phạm được hiểu theo một vài ý nghĩa sau: - Trải nghiệm trong đào tạo là một hệ thống kiến thức và kỹ năng có được trong quá trình giáo dục và đào tạo chính quy. - Trải nghiệm là kiến thức, kỹ năng mà trẻ nhận được bên ngoài các cơ sở giáo dục: thông qua sự giao tiếp với nhau, với người lớn, hay qua những tài liệu tham khảo không được giảng dạy trong nhà trường,. b) Các loại trải nghiệm Người ta phân loại các trải nghiệm khác nhau như trải nghiệm vật chất, trí tuệ, tình cảm, tinh thần, gián tiếp và mô phỏng.
- Trải nghiệm vật chất: liên quan đến những trải nghiệm có thể quan sát được, nó là hình thức bên ngoài của hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng. - Trải nghiệm tinh thần: liên quan đến khía cạnh trí tuệ và ý thức, là sự kết hợp giữa tư duy, nhận thức, trí nhớ, cảm xúc, ý chí và tưởng tượng. Nó bao gồm cả các quá trình nhận thức vô thức. Trải nghiệm này thường được sử dụng trong việc học tập các môn học (đặc biệt các môn khoa học) hoặc việc học được một khái niệm nào đó không có chủ định (ví dụ như làm nhiều một dạng bài toán nào đó rồi tự dưng phát hiện ra nguyên lý chung của việc giải những bài toán này).
Có thể nói trải nghiệm tinh thần là hình thức bên trong của hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng. - Trải nghiệm tình cảm: được diễn ra khi yêu hay kết bạn. Yêu là trải nghiệm tình cảm. Khái niệm trải nghiệm tình cảm cũng xuất hiện trong khái niệm đồng cảm.
Học các môn học thuộc các lĩnh vực giáo dục nghệ thuật, giáo dục đạo đức, lối sống, học sinh cần được trải nghiệm tình cảm thì hiệu quả mới tốt. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Trải nghiệm tâm thần: diễn ra khi có sự cố như sốt cao, viêm màng não, thiếu ngủ, thiếu ô xy, rối loạn tâm thần, tai nạn chấn thương,. Con người cũng có thể trải nghiệm như vậy bằng cách thôi miên, thiền, thần chú, yoga,.