phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được chia thành 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý dự trữ ngoại hối Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý dự trữ ngoại hối ở Việt Nam Chƣơng 4: Đinḥ hướng vàgi ải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Các nước trên thếgiới thường cómô hình , cách thức, nguyên tắc quản lý DTNH riêng biêṭ, phù hợp với đặc điểm tình hình nền kinh tế.
Tuy nhiên, đều căn bản dựa trên tài liệu “Hướng dẫn quản lý dự trữ ngoại hối” và “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Quỹ tiền tệ quốc tế là một tổ chức quốc tế thưc̣ hiêṇ giám sát h ệ thống tài chính toàn cầu bằng cách theo dõi tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán , cũng như thưc̣ hiêṇ các hỗ trợ kỹ thuật và giúp đỡ vềtài chính khi có yêu cầu. Kể từ khi được thành lập (ngày 27/12/1945) cho tới nay, Quỹ Tiền tệ quốc tế đã chú trọng quan tâm trong việc phát triển và ban hành các tài liệu hướng dẫn về sự cân bằng các số liệu thống kê thanh toán. Bản “Hướng dẫn quản lý dự trữ ngoại hối” đầu tiên được IMF giới thiệu ngày 20/9/2001.
Kể từ đó, tài liệu này đã được IMF xem xét và cập nhật nhiều lần, trong đó bản cập nhật cuối cùng là năm 2012 (đươc̣ chinh́g thức ban hành ngày 01/2/2013). Bản hướng dẫn này đã được thiết lập bởi IMF và một nhóm các NHTW và các cơ quan tiền tệ. Mục tiêu của nó là nhằm thúc đẩy những thông tệ tốt nhất cho quản lý DTNH. Điều này không có nghĩa là các NHTW phải tuân thủ nghiêm ngặt hướng dẫn này, mà thay vào đó sử dụng nó làm cơ sở để thiết lập các nguyên tắc quản lý DTNH riêng của mình.
Bản hướng dẫn này bao gồm bốn vấn đề được IMF xác định là cần thiết để quản lý DTNH, đó là: các mục tiêu quản lý dự trữ ngoại hối; tính minh bạch và trách nhiệm giải trình; khuôn khổ thể chế và tổ chức; và khuôn khổ quản lý rủi ro. 4 Kể từ khi phiên bản “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” đầu tiên được xuất bản (tháng 01/1948), các phiên bản kế tiếp (phiên bản thứ 2 - năm 1950, phiên bản thứ 3 - năm 1961, phiên bản thứ 4 - năm 1977, phiên bản thứ 5 - năm 1993) đã được IMF cập nhật, nghiên cứu và cải tiến cho phù hợp với các sự kiện quan trọng xảy ra trong nền kinh tế thếgiới. Đáng chú ý là phiên bản thứ 5, phát hành tháng 9/1993, lần đầu tiên giải quyết các lĩnh vực quan trọng của linh̃t vực thống kê đầu tư quốc tế. Còn phiên bản thứ 6 (phiên bản mới nhất - tháng 11/2008) được xây dựng trên sự quan tâm trong việc kiểm tra các lỗ hổng khi sử dụng số liệu bảng cân đối kếtoán , cũng như bổ sung thêm các thành phần trong bảng cân đối kế toán.
Ngoài ra, nó đề cập tới sự phát triển của thị trường tài chính, trong đó cập nhật một loạt các vấn đề như chứng khoán và các tổ chức tài chính đặc biệt. Để hỗ trợ thống nhất và gắn kết lẫn nhau giữa các số liệu thống kê kinh tế vĩ mô, phiên bản này của IMF tập trung vào sự hài hòa giữa hệ thống tài khoản Quốc gia (SNA) với các Hướng dẫn của IMF về số liệu thống kê tiền tệ, tài chính và ngân sách của Chính phủ. Việc phát hành phiên bản thứ 6 là đỉnh cao của nhiều năm làm việc, nghiên cứu của Cục Thống kê và các Ủy ban về thống kê cán cân thanh toán của IMF. Nó cập nhật phiên bản thứ 5, cung cấp hướng dẫn cho các nước thành viên IMF trong việc lập cán cân thanh toán và dữ liệu đầu tư quốc tế.
Bên cạnh hai tài liệu “Hướng dẫn quản lý dự trữ ngoại hối” và “Cẩm nang cán cân thanh toán quốc tế” của IMF, một tài liệu khác đáng chú ý liên quan đến quản lý DTNH là cuốn sách “RISK MANAGEMENT FOR CENTRAL BANK FOREIGN RESERVES” (Quản lý rủi ro trong dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương) do Ngân hàng Trung ương Châu Âu xuất bản tháng 5/2004. Cuốn sách này đã tập hợp những đóng góp quý báu của các học giả và các chuyên gia phản ánh bản chất cụ thể của quá trình quản lý DTNH của NHTW; trong đó nổi bật là vai trò quan trọng của công tác quản 5 lý rủi ro trong việc xác nhận và cải tiến các quy trình đầu tư DTNH của các NHTW. Cuốn sách bao gồm ba nội dung chính: (i) Tổng quan chung và các chiến lược đầu tư dự trữ ngoại hối; (ii) Hướng dẫn chi tiết về phương pháp đo lường và quản lý rủi ro (các công cụ đo lường và tối ưu hóa danh mục đầu tư); và (iii) Nghiên cứu các điển hình thực tế tại một số NHTW trên thế giới. Ngoài ra, liên quan đến đề tài này có một số bài nghiên cứu, đó là: - Bài nghiên cứu “Foreign exchange reserve accumulation in emerging markets: what are the domestic implications ?” của hai tác giảMohanty và Philip Turner thảo luận về một số tác động nội tại trong nước tới việc can thiệp ngoại hối quy mô lớn giai đoạn 2000-2005 của các nền kinh tế thị trường mới nổi để nhằm kiềm chế lạm phát (Mohanty, 2006).
- Bài nghiên cứu “Intra -regional Currency Linkages and the Evolution of Exchange Rate Regime of the ASEAN Region” của tác giảNguyen Tung (trường Đaịhoc̣ Illinois Wesleyan University - Hoa Kỳ) viết vềcác m ối liên hệ tiền tệ và sự phát triển của cơ chế tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN). Thông qua sử dụng tỷ giá hối đoái hàng tháng cho mỗi đơn vị SDR và toàn bộ dữ liệu DTNH mở rộng sau thời kỳ Bretton Woods (1973-2014), đồng thời sử dụng mô hình tính toán Frankel-Wei, kết quả cho thấy trước thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á (1973-1996), đồng tiền các nước trong khu v ực ASEAN chủ yếu neo vào đồng đô la Mỹ và mối liên kết tiền tệ giữa các nước trong khu v ực ASEAN thì rất yếu. Tuy nhiên, sau thời kỳ khủng hoảng (1999-2014) đồng tiền các nước trong khu v ực ASEAN đã trở nên linh hoạt hơn và mối liên kết tiền tệ giữa các nước trong khu vực ASEAN đã tăng lên đáng kể (Nguyen Tung, 2015). Các công trình nghiên cứu trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu ngoài nước, trong nước cũng có một số công trình liên quan đến đề tài.
6 Nghiên cứu về quản lý DTNH của NHTW là một vấn đề khó nhưng có ý nghĩa thiết thực, vì vậy đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn Thị Phương Mai (2012) “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” (Luận văn Thạc si tkinh t ế, Học viện Ngân hàng). Đề tài này đã phản ánh được thực trạng của công tác quản lý DTNH của NHNN giai đoạn 2006 - 2011 theo Nghị định số 86/1999/NÐ-CP của Chính phủ và đưa ra được một số giải pháp về tăng quy mô Quỹ dự trữ ngoại hối và đa dạng hóa cơ cấu đầu tư ngoại tệ trong thanh toán và dự trữ quốc tế của NHNN; và Nguyễn Thị Thúy Linh (2011) “Pháp luật về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” (Luận văn Thạc si tLu ật, Đại học Quốc gia Hà Nội). Đề tài này chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra định hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về quản lý ngoại hối của NHNN. Ngoài ra, có một số đề tài nghiên cứu, Báo cáo nghiên cứu và bài báo khoa học liên quan như: - Bài viết “Quy mô và cơ cấu dự trữ ngoại hối của Việt Nam thời kỳ hậu WTO” của nhóm tác giảLê Th ị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh đa ̃ phân tích quy mô DTNH dựa trên một số tiêu chí chuẩn quốc tế từ sau khi Việt Nam gia nhập Tổchức Thương maịThếgiới , đồng thời phân tích cơ cấu DTNH của Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị về mặt chính sách cho NHNN nhằm tăng quy mô cũng như nâng cao hiệu quả quản lý DTNH tại Việt Nam (Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Thị Hoàng Anh, 2013). - Phạm Thị Hoàng Anh và Bùi Duy Phú, Đánh giá mức độ can thiệp trung hòa của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường ngoại hối bằng mô hình tuyến tính và phi tuyến tính, Tạp chí Ngân hàng số 16, năm 2013. Trong bài viết này, các tác giả phân tích và đánh giá mức độ can thiệp trung hòa của 7 NHNN trên thị trường ngoại hối bằng mô hình tuyến tính và phi tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho th ấy, NHNN mới chỉ thực hiện được trung hòa một phần tác động của hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối.
- Học viện Ngân hàng (2015), Diễn biến tỷ giá và thị trường ngoại tệ Việt Nam dưới tác động chính sách của Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo nghiên cứu 15/01. Nhóm tác giả nghiên cứu, xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa tỷ giá và một số biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, cán cân thương mại, mức độ đô la hóa, quy mô DTNH và nợ nước ngoài bằng một số mô hình thực nghiệm. Kết quả báo cáo nghiên cứu cho thấy, tại Việt Nam, tỷ giá nhạy cảm với lạm phát và kém nhạy cảm với cán cân thương mại. Ổn định tỷ giá làm giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế, tăng DTNH, đồng thời giảm bớt gánh nặng nợ nước ngoài.
Cuối cùng, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị, chính sách nhằm duy trì sự ổn định tỷ giá của Việt Nam trong thời gian tới. Đánh giá chung Có thể nhận thấy, các nghiên cứu quốc tế đã nghiên cứu khá đầy đủ và công phu về cơ sở khoa học, cũng như đã đưa ra được các nội dung mang tính chất lý luận toàn diện về quản lý DTNH nói chung, nhưng lại thiếu các nghiên cứu mang tính áp dụng thực tiễn đối với một định chế tài chính đặc biệt là NHTW của một nước đang phát triển là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.