CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ DỰ AN MUA SAM THIET BỊ 1. Téng quan tinh hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chủ đề QLDA là chủ đề rộng lớn bởi vì nó được phân chia ở nhiều khía cạnh khác nhau. Không chỉ ở khía cạnh nguồn vốn: gồm nguồn vốn trong nước mà còn ở nhiều lĩnh vực.
Các tiêu chí QLDA như: QLCP, quản lý tiến độ, quản lý chất lượng, quản lý rủi ro. cũng là những chủ đề được quan tâm nghiên cứu đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học của các ngành khoa học quản lý trong các cơ sở đảo tạo sau đại học ở Việt Nam. Nguyễn Hữu Dũng (2008) trong luận văn “Thu hut va sử dung ODA của Ngân hàng thé giới tại Việt Nam”, Truong Dai học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế về thu hút và sử dụng vốn ODA (Hỗ trợ phát triển chình thức) của Ngân hàng thế giới ở một số nước và bài học cho Việt Nam. Phần cơ sở lý luận nhấn mạnh đến đặc điểm ODA của WB với tư cách là ODA đa phương, khác với ODA song phương.
Từ việc đánh gia thực trạng về thu hút và sử dụng ODA của WB, công trình đề xuất nhóm giải pháp ODA của Ngân hàng thé giới, cụ thé là: Việt Nam cần năm bắt và hiểu rõ những thay đôi trong chiến lược hỗ trợ của WB trong từng giai đoạn; tăng cường quan hệ với WB, không chỉ coi WB đơn thuần là nguồn hỗ trợ tài chính vào Việt Nam mà WB còn là nguồn kiến thức và tư vấn chính sách; chủ động, có những nỗ lực cần thiết để cùng WB tháo gỡ, giải quyết khó khăn về tốc độ cải cách; xây dựng hệ thống thông tin liên lạc giữa Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan đến quản lý, sử dụng ODA và tốc độ giải ngân ODA; tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật, đảm bảo quan lý, sử dụng ODA của WB;. nhằm nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng ODA của WB thời gian tới. Nguyễn Minh Phong (2013) trong bài viết: “Máng cao hiệu quả dau tu công từ ngân sách nhà nước ” đăng trên Tạp chí Tài chính, số 5 ngày 17/5/2013 đã xác định nguyên nhân dẫn tới tình trạng các dự án đầu tư công dàn trải, đầu tư sai, chất lượng thấp, thường bị chậm tiến độ ở các địa phương là do các dự án chỉ mang tính chất lợi ích cục bộ, thiếu tính kết nối với hệ thống cơ sở hạ tầng quốc gia. Đặc biệt, tác giả cho rằng việc đầu tư các dự án BOT cũng như nhiều dự án được Nhà nước bảo lãnh.
Dé góp phần giải quyết thực tế này, tác giả đề xuất các giải pháp liên quan đến hoàn thiện cơ chế lựa chọn dự án và hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả sau đầu tư, yêu cầu các CDT công khai các thông tin, quy trình, thủ tục, danh mục dự án vận động đầu tư. Ngoài ra, còn có một số các nghiên cứu trình bày, phân tích những mặt cụ thé trong quy trình quan lý dự án như: Tran Văn Hoàn (2012) trong luận văn “Quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng tại Công ty Cổ phan xây dựng số 01 Hà Nội”, Trường Đại học Thủy lợi đã hệ thống hóa, phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề trong quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng, trong đó, tác giả cho rằng việc lựa chọn nhà thầu Tư vấn giám sát sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình thi công tại hiện trường bởi Chủ đầu tư không thê có mặt tại hiện trường 100% thời gian cùng nhiều địa điểm. Nguyễn Thị Hương (2015) trong luận văn “Quản lý tdi chính tai Dai học Quốc gia Hà Nội trong bói cảnh đổi mới quản lý tài chính giáo duc đại hoc”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận văn cho thấy trong thời gian qua Đại học Quốc gia Hà Nội đã từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý từ công tác lập kế hoạch đến phân bổ các chỉ tiêu cho hoạt động đào tạo nghiên cứu, phân cấp quản lý.
Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, bất cập như: nguồn thu hạn chế, chưa khuyến khích nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, chưa đáp ứng nhu cầu công việc. Những bat cập đó có nguyên nhân chủ quan và khách quan do cơ chế tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội và xuất phát từ các bất cập trong quản lý tại các trường đại học công lập của Việt Nam. Trần Văn Hoàn (2012) trong luận văn “Quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng tại Công ty Cổ phan xây dựng số 01 Hà Nội”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa, phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề trong quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng, trong đó, tác giả cho rằng việc lựa chọn nhà thầu Tư vấn giám sát sẽ đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình thi công tại hiện trường bởi Chủ đầu tư không thể có mặt tại hiện trường 100% thời gian cùng nhiều địa điểm.
Nguyễn Thị Hương (2015) trong luận văn “Quản lý tai chính tại Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới quản lý tài chính giáo duc đại hoc” cho thấy trong thời gian qua Đại học Quốc gia Hà Nội đã từng bước hoàn thiện cơ chế quan lý từ công tác lập kế hoạch đến phân bé các chỉ tiêu cho hoạt động dao tao nghiên cứu, phân cấp quản lý. Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính vẫn còn bộc lộ nhiều điểm yếu kém, bất cập như: nguồn thu hạn chế, phân bổ tài chính, chưa khuyến khích nâng cao năng lực đội ngũ, can bộ kế toán, chưa đáp ứng nhu cầu công việc. Những bat cập đó có nguyên nhân chủ quan và khách quan do cơ chế tài chính của Đại học Quốc gia Hà Nội và xuất phát từ các bất cập trong quản lý tại các trường đại học công lập của Việt Nam. Tran Thái Tuân (2017) trong luận văn “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thâu các dự án dau tư ở Ban Quan lý dự án, Tong cục Hậu can — Kỹ thuật, Bộ Công 4n”, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung nghiên cứu về các dự án đầu tư với đặc thù của Bộ Công An.
Ngoài việc nghiên cứu pháp luật về chỉ định thầu, tác giả còn tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế, bat hợp ly của chính sách pháp luật quản ly nhà nước với hoạt động dau thầu nói chung và chỉ định thầu nói riêng. Từ đó kiến nghị các giải pháp dé hoàn thiện thé chế chính sách trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đấu thầu tại Ban Quản lý dự án Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công An. Đề tài đánh giá hoạt động quan tri dự án của Công ty va qua minh họa dự án Công trình Trung tâm Giáo dục Thường xuyên - Hướng nghiệp thành phố Hội An, đề tài tổng hợp cơ sở lý luận về quản trị dự án; phân tích thực trạng và đề xuất những giảipháp cơ bản về mặt quan tri trong quá trình tổ chức thực hiện các dự án công trình tại Công ty Cô phần Xây dựng và Phát triển Kinh tế Tiền phong Đà Nẵng. Lê Trường Thọ (2019), đề tài quản lý dự án đầu tư tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Hà Nam.
Luận văn đã đã tập trung nghiên cứu về các dự án đầu tư với đặc thù đối tượng là các ông trình giao thông tỉnh Hà Nam. Ngoài việc nghiên cứu pháp luật về chỉ định thầu, tác giả còn tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế, bất hợp lý của chính sách pháp luật quản lý nhà nước với hoạt động đấu thầu nói chung và đấu thầu qua mạng nói riêng. Từ đó kiến nghị các giải pháp dé hoàn thiện thé chế chính sách trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động quản lý dự án đầu tư tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Hà Nam 1. Khoáng trồng nghiên cứu Tổng hợp các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra: Nhiều công trình liên quan đến QLDA sử dụng nhiều nguồn vốn khác nhau (nguồn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn viện trợ, nguồn vốn của doanh nghiệp.), ở nhiều lĩnh vực khác nhau (an ninh, giáo dục, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải,.) và phân tích trên nhiều khía cạnh khác nhau (tiến độ, chất lượng, tài chính,.), đề cập từ tổng quan lý thuyết cho đến vận dụng thực tiễn đối với từng khu vực, từng giai đoạn.
Các công trình trên ở các cấp độ khác nhau, cách tiếp cận chuyên ngành khác nhau, đã nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về QLDA tại đơn vị sự nghiệp công lập cũng như các doanh nghiệp. Về thực tiễn, nhiều công trình nghiên cứu QLDA trong lĩnh vực đầu tư công, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường,. Các công trình nghiên cứu đã đưa ra được nhiều giải pháp thiết thực liên quan đến công tác QLDA nói chung và dự án đầu tư xây dựng nói riêng, hoặc quản lý hoạt động đấu thầu xây dựng,. Tuy nhiên chưa có công trình, luận văn nao nghiên cứu về đề tài MSTB.
Ngoài ra, trên khía cạnh pháp lý cũng chưa có những quy định rõ ràng, tiêu chí cụ thể về QLDA mua sam thiết bị. Chính vi vậy, tác giả lựa chọn dé tài “Quản lý dự án mua sắm thiết bị tại Ban Quản lý các dự án Bộ Giáo dục và Đào tạo” nhằm đưa ra những đóng góp học thuật thiết thực cho công tác QLDA nói chung và QLDA mua sắm thiết bị nói riêng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Quá trình tổng quan nghiên cứu tài liệu giúp hình dung về kết cấu đề tài, cơ sở lý luận, kinh nghiệm QLDA của một số đơn vị hành chính sự nghiệp Nhà nước. Cơ sở lý luận về quản lý dự án mua sắm thiết bị 1.
Khái quát về dự án và dự án mua sắm thiết bị 1. Khái niệm về dự án và dự án mua sắm thiết bị * Dự án: Dự án có nhiều quan niệm và không có định nghĩa chính thức, có nhiều quan niệm như sau: Theo Viện Quản lý dự án, “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm, dịch vụ hay kết quả duy nhất” (Viện Quản lý Dự án, 2017).